Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn tại ngân hàng thương mại ban hành kèm theo Quyết định số 03/2011/QĐ-TTg ngày 10 tháng 01 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ (sau đây viết tắt là Quy chế), cụ thể như sau:
1. Sửa đổi, bổ sung Điều 9 Quy chế như sau:
“Điều 9. Phí bảo lãnh
1. Phí bảo lãnh bao gồm:
a) Phí thẩm định hồ sơ đề nghị bảo lãnh vay vốn: 500.000 đồng cho một hồ sơ và nộp cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam cùng với hồ sơ đề nghị bảo lãnh vay vốn;
b) Phí bảo lãnh vay vốn: 0,5%/năm tính trên số tiền được bảo lãnh.
2. Phí bảo lãnh thu được, Ngân hàng Phát triển Việt Nam được hạch toán toàn bộ vào thu nhập của Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
3. Ngân hàng Phát triển Việt Nam xem xét, quyết định xóa phí bảo lãnh đối với doanh nghiệp đã phá sản, giải thể và sau khi thanh lý, xử lý toàn bộ tài sản của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Ngân hàng Phát triển Việt Nam hướng dẫn về hồ sơ, trình tự, thủ tục và chịu trách nhiệm về quyết định xóa phí bảo lãnh.”.
2. Sửa đổi, bổ sung Điều 20 Quy chế như sau:
“Điều 20. Nợ vay bắt buộc bảo lãnh và hoàn trả nợ cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam
1. Sau khi thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, Ngân hàng Phát triển Việt Nam yêu cầu bên được bảo lãnh nhận nợ và ký hợp đồng nợ vay bắt buộc bảo lãnh với Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
2. Sau khi ký hợp đồng nợ vay bắt buộc bảo lãnh, bên được bảo lãnh chuyển thành bên nhận nợ vay bắt buộc bảo lãnh tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
3. Hợp đồng nợ vay bắt buộc bảo lãnh quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm các nội dung như sau:
a) Lãi suất nợ vay bắt buộc bảo lãnh: Được xác định bằng lãi suất cho vay tín dụng đầu tư của nhà nước tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam tại thời điểm ký hợp đồng nợ vay bắt buộc bảo lãnh; lãi suất nợ vay bắt buộc bảo lãnh quá hạn tối đa bằng 150% lãi suất trong hạn, mức lãi suất cụ thể do Ngân hàng Phát triển Việt Nam xem xét, quyết định;
b) Thời gian trả nợ vay bắt buộc bảo lãnh: Thời gian cụ thể do Ngân hàng Phát triển Việt Nam xem xét, quyết định căn cứ vào tình hình tài chính, phương án sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ vay của bên nhận nợ vay bắt buộc bảo lãnh;
c) Bảo đảm cho khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh: Ngân hàng Phát triển Việt Nam thực hiện định giá lại tài sản bảo đảm. Trường hợp sau khi định giá, giá trị tài sản bảo đảm của dự án, phương án của khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh thấp hơn giá trị ghi sổ số dư nợ gốc và nợ lãi của khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh tại thời điểm ký hợp đồng nợ vay bắt buộc bảo lãnh, Ngân hàng Phát triển Việt Nam căn cứ vào tình hình tài chính, hoạt động, khả năng trả nợ của bên được bảo lãnh để thẩm định và quyết định việc bổ sung biện pháp bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật;
d) Các nội dung khác liên quan đến khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh do Ngân hàng Phát triển Việt Nam xem xét thỏa thuận, thống nhất với bên nhận nợ vay bắt buộc bảo lãnh và quy định cụ thể tại hợp đồng nợ vay bắt buộc bảo lãnh.
4. Bên nhận nợ vay bắt buộc bảo lãnh có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ nợ, gốc và nợ lãi phát sinh cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam theo hợp đồng nợ vay bắt buộc bảo lãnh đã ký.
5. Căn cứ kết quả đánh giá về tình hình tài chính, hoạt động, phương án sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của bên nhận nợ vay bắt buộc bảo lãnh, Ngân hàng Phát triển Việt Nam xem xét, quyết định việc miễn, giảm lãi của khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh. Ngân sách nhà nước không cấp bù lãi suất và phí quản lý đối với toàn bộ dư nợ của khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh trong trường hợp Ngân hàng Phát triển Việt Nam và bên nhận nợ vay bắt buộc bảo lãnh thỏa thuận, thống nhất áp dụng quy định về miễn, giảm lãi của khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh. Ngân hàng Phát triển Việt Nam hướng dẫn về hồ sơ, trình tự, thủ tục miễn, giảm lãi của khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh.
6. Việc xử lý rủi ro đối với các khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh thực hiện theo quy định tại cơ chế xử lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ ban hành.”.
3. Sửa đổi, bổ sung Điều 21 Quy chế như sau:
“Điều 21. Trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro nợ vay bắt buộc bảo lãnh
Việc trích lập, sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý rủi ro đối với các khoản nợ vay bắt buộc bảo lãnh thực hiện theo quy định về chế độ quản lý tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam và cơ chế xử lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam do các cơ quan có thẩm quyền ban hành.”.
4. Sửa đổi, bổ sung khoản 1, khoản 2 Điều 23 Quy chế như sau:
“1. Ngân hàng Phát triển Việt Nam:
a) Thực hiện đầy đủ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các nội dung quy định tại Quy chế này và các quy định của pháp luật khác có liên quan;
b) Phối hợp với ngân hàng thương mại theo dõi, kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay của bên được bảo lãnh theo đúng mục đích đã quy định tại hợp đồng tín dụng;
c) Định kỳ thực hiện kiểm tra, giám sát, đôn đốc thu hồi nợ vay bắt buộc bảo lãnh theo đúng hợp đồng nợ vay bắt buộc bảo lãnh đã ký;
d) Xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong quá trình thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với các trường hợp Ngân hàng Phát triển Việt Nam phải trả nợ thay và nợ xấu phát sinh trong quá trình giám sát nợ vay bắt buộc bảo lãnh.
2. Bộ Tài chính: Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan trong việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn ngân hàng thương mại, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành.”.
5. Sửa đổi điểm b, bổ sung điểm c khoản 3 Điều 23 Quy chế như sau:
“b) Phối hợp với Bộ Tài chính trong việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn tại ngân hàng thương mại;
c) Cung cấp bằng văn bản mức lãi suất cho vay bình quân bằng đồng đô la Mỹ của các ngân hàng thương mại trong nước trong cùng thời kỳ trong vòng 15 ngày làm việc kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực thi hành để Bộ Tài chính cung cấp cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam.”.
6. Bổ sung khoản 4 Điều 23 Quy chế như sau:
“4. Các bộ, cơ quan ngang bộ:
Thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra, giám sát đối với hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (trong đó có hoạt động bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa) theo chức năng, nhiệm vụ được Chính phủ giao và quy định của pháp luật.”.