vanban.org

Điều 11. Cấp Giấy chứng nhận cho hộ gia đình, cá nhân đã được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01/7/2004 và có giấy tờ chứng minh về việc đã nộp tiền cho cơ quan, tổ chức để được sử dụng đất — Quyết định 12/2015/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 05/07/2023 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 05/07/2023 Thay thế: 12/2023/QĐ-UBND · 05/07/2023 Sửa đổi, bổ sung: 04/2017/QĐ-UBND · 26/04/2017
Hưng Yên Ban hành 16/07/2015 Hiệu lực 26/07/2015 Hết hiệu lực toàn bộ 4 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 4 đời quyết định · 9 phiên bản · 15 năm
Quyết định số 27/2024/QĐ-UBND Ban hành Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai ngày 18 tháng 01 năm 2024 và Nghị định số 102/2024/NĐ-CP ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ · 27/2024/QĐ-UBND
Quyết định số 12/2023/QĐ-UBND Ban hành Quy định về hạn mức giao đất ở, hạn mức công nhận đất ở; điều kiện tách thửa, hợp thửa và diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với các loại đất; xử lý một số trường hợp cụ thể khi cấp, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Hưng Yên · 12/2023/QĐ-UBND
Quyết định số 12/2015/QĐ-UBND Ban hành Quy định một số trường hợp cụ thể khi cấp, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Hưng Yên · 12/2015/QĐ-UBND
Quyết định số 14/2011/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định một số trường hợp cụ thể về sử dụng đất khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; về diện tích đất ở tối thiểu được phép tách thửa trên địa bàn tỉnh Hưng Yên · 14/2011/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 12/2015/QĐ-UBND › Chương II › Mục 3 › Điều 11
Đọc toàn văn

Điều 11. Cấp Giấy chứng nhận cho hộ gia đình, cá nhân đã được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01/7/2004 và có giấy tờ chứng minh về việc đã nộp tiền cho cơ quan, tổ chức để được sử dụng đất

1. Trường hợp đất được giao không đúng thẩm quyền đã được sử dụng ổn định trước ngày 15/10/1993 (trừ trường hợp giao đất không đúng thẩm quyền cho hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích kinh doanh phi nông nghiệp hoặc đất dịch vụ, thời hạn lâu dài hoặc đấu thầu dài hạn nộp tiền một lần thì thực hiện theo quy định tại Điều 12 Quy định này) nay được UBND cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp về sử dụng đất; việc sử dụng đất tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận là phù hợp với quy hoạch hoặc không phù hợp với quy hoạch nhưng đã sử dụng đất từ trước thời điểm phê duyệt quy hoạch hoặc sử dụng đất tại nơi chưa có quy hoạch thì người đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận đối với diện tích đất đã được giao theo quy định tại Khoản 1 Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ, cụ thể như sau:

a) Đối với diện tích đất đã được giao có nhà ở ổn định mà diện tích thửa đất được giao nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức công nhận đất ở quy định tại Khoản 2 Điều 7 Quyết định số 18/2014/QĐ-UBND của UBND tỉnh (sau đây gọi là hạn mức công nhận đất ở) thì toàn bộ diện tích đất đã được giao được công nhận là đất ở và không phải nộp tiền sử dụng đất;

Trường hợp diện tích đất đã được giao có nhà ở ổn định mà diện tích đó lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức công nhận đất ở; trường hợp diện tích đất xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì công nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống đó; phần diện tích đất ở đang sử dụng trong hạn mức công nhận đất ở thì không phải nộp tiền sử dụng đất, phần diện tích vượt hạn mức thu tiền sử dụng đất bằng 50% tiền sử dụng đất theo giá đất quy định tại các Điểm b, c Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP của Chính phủ tại thời điểm được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất.

b) Đối với diện tích đất đã được giao có công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì công nhận đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, đất thương mại, dịch vụ theo diện tích thực tế đã xây dựng công trình đó; hình thức sử dụng đất được công nhận như hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất là ổn định lâu dài và không phải nộp tiền sử dụng đất.

c) Đối với diện tích đất đã được giao có cả nhà ở ổn định và công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được công nhận theo quy định tại Điểm a Khoản này; phần diện tích còn lại đã xây dựng công trình sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì được công nhận theo quy định tại Điểm b Khoản này;

d) Đối với phần diện tích đất còn lại sau khi đã được xác định theo quy định tại các Điểm a, b và c Khoản này thì được xác định là đất nông nghiệp và được công nhận theo quy định tại Khoản 5 Điều 20 của Nghị định 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ.

đ) Đối với diện tích đất đã được giao vào mục đích đất ở mà tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận chưa có nhà ở và công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp mà diện tích thửa đất thực tế nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức giao đất ở quy định tại Khoản 1 Điều 4 Quyết định số 18/2014/QĐ-UBND của UBND tỉnh thì toàn bộ diện tích đất đã được giao được công nhận là đất ở và không phải nộp tiền sử dụng đất;

Trường hợp diện tích đất đã được giao vào mục đích đất ở mà tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận chưa có nhà ở và công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp mà diện tích đó lớn hơn hạn mức giao đất ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức giao đất ở quy định tại Khoản 1 Điều 4 Quyết định số 18/2014/QĐ-UBND của UBND tỉnh; phần diện tích còn lại được xác định là đất nông nghiệp và được công nhận theo quy định tại Khoản 5 Điều 20 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ.

Nếu người sử dụng đất đề nghị được chuyển sang sử dụng vào mục đích đất ở thì phải làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất bằng mức chênh lệch giữa thu tiền sử dụng đất ở với thu tiền sử dụng đất theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định chuyển mục đích của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Trường hợp đất được giao không đúng thẩm quyền đã được sử dụng ổn định từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 (trừ trường hợp giao đất không đúng thẩm quyền cho hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích kinh doanh phi nông nghiệp hoặc đất dịch vụ, thời hạn lâu dài hoặc đấu thầu dài hạn nộp tiền một lần thì thực hiện theo quy định tại Điều 12 Quy định này); nay được UBND cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp về sử dụng đất; việc sử dụng đất tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận là phù hợp với quy hoạch thì người đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận đối với diện tích đất đã được giao theo quy định tại Khoản 2 Điều 20 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ, cụ thể như sau:

a) Đối với diện tích đất đã được giao có nhà ở ổn định mà diện tích thửa đất được giao nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức giao đất ở tối đa quy định tại Khoản 1 Điều 4 Quyết định số 18/2014/QĐ-UBND của UBND tỉnh (sau đây gọi là hạn mức giao đất ở) thì toàn bộ diện tích đất đã được giao được công nhận là đất ở.

Trường hợp diện tích đất đã được giao có nhà ở ổn định mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức giao đất ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức giao đất ở; trường hợp diện tích đất xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức giao đất ở thì công nhận diện tích đất ở theo diện tích thực tế đã xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ đời sống đó.

Phần diện tích đất ở đang sử dụng trong hạn mức công nhận đất ở thì phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP của Chính phủ; phần diện tích vượt hạn mức công nhận thì thu tiền sử dụng đất bằng 100% tiền sử dụng đất theo giá đất quy định tại các Điểm b, c Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP tại thời điểm được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất.

b) Đối với diện tích đất đã được giao có công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì công nhận đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, đất thương mại, dịch vụ theo diện tích thực tế đã xây dựng công trình đó theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều này và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 8 của Nghị định số 45/2014/NĐ-CP của Chính phủ.

c) Đối với diện tích đất đã được giao có cả nhà ở và công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức giao đất ở thì công nhận diện tích đất ở, đất xây dựng công trình sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp theo quy định tại Điểm a, b Khoản này;

d) Đối với phần diện tích đất còn lại sau khi đã được xác định theo quy định tại các Điểm a, b và c Khoản này thì được xác định là đất nông nghiệp và được công nhận theo quy định tại Khoản 5 Điều 20 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ.

đ) Đối với diện tích đất đã được giao vào mục đích đất ở mà tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận chưa có nhà ở và công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp mà diện tích thửa đất thực tế nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức giao đất ở tối đa quy định tại Quyết định số 18/2014/QĐ-UBND của UBND tỉnh thì toàn bộ diện tích đất đã được giao được công nhận là đất ở và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP của Chính phủ.

Trường hợp diện tích đất đã được giao vào mục đích đất ở mà tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận chưa có nhà ở và công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp mà diện tích đó lớn hơn hạn mức giao đất ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức giao đất ở tối đa và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP của Chính phủ; phần diện tích còn lại được xác định là đất nông nghiệp và được công nhận theo quy định tại Khoản 5 Điều 20 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ.

Nếu người sử dụng đất đề nghị được chuyển sang sử dụng vào mục đích đất ở thì phải làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất bằng mức chênh lệch giữa thu tiền sử dụng đất ở với thu tiền sử dụng đất theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định chuyển mục đích của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Các giấy tờ chứng minh đã nộp tiền để được sử dụng đất được quy định theo Điều 10 Quy định này.