Điều 6. Thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có đất tranh chấp ban hành quyết định cưỡng chế và tổ chức cưỡng chế thi hành đối với các trường hợp sau:
a) Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết lần đầu đã có hiệu lực pháp luật;
b) Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết lần 2 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã có hiệu lực pháp luật.
c) Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giải quyết lần đầu đã có hiệu lực pháp luật;
d) Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường giải quyết lần 2 đã có hiệu lực pháp luật.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có thể ủy quyền cho cấp phó ban hành quyết định cưỡng chế theo thẩm quyền tại Khoản 1 Điều này; việc ủy quyền phải được thể hiện bằng văn bản, trong đó xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn được ủy quyền. Người được ủy quyền phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình trước người ủy quyền và trước pháp luật. Người được ủy quyền không được ủy quyền lại cho bất kỳ người nào khác.