vanban.org

Điều 8. Xử lý một số trường hợp cụ thể về bồi thường đất — Quyết định 10/2021/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/09/2024 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/09/2024
Khánh Hòa Ban hành 26/08/2021 Hiệu lực 10/09/2021 Hết hiệu lực toàn bộ 1 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 5 năm
Quyết định số 10/2021/QĐ-UBND Ban hành Quy định chi tiết một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa · 10/2021/QĐ-UBND
01/09/202417/2024/QĐ-UBNDSửa đổi Đang xem 10/09/2021Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 10/2021/QĐ-UBND › Chương II › Điều 8
Đọc toàn văn

Điều 8. Xử lý một số trường hợp cụ thể về bồi thường đất

Quy định về diện tích đất ở còn lại sau khi thu hồi không đủ điều kiện để ở tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP , và trường hợp phần diện tích đất nông nghiệp còn lại không đủ điều kiện để sản xuất.

Để đảm bảo căn cứ thực hiện thu hồi đất theo quy định tại Điều 63 Luật đất đai, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng căn cứ hồ sơ khu đất thu hồi thực hiện dự án để kiểm tra, thống kê đưa toàn bộ diện tích của thửa đất bị thu hồi một phần diện tích mà phần diện tích đất còn lại không đủ điều kiện quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này vào trong tổng diện tích đất Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án theo Điều 61, Điều 62 Luật đất đai để báo cáo UBND cấp huyện cập nhật bổ sung phần diện tích đất thu hồi ngoài dự án đó vào kế hoạch thu hồi đất theo Điều 17 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ, và bổ sung vào kế hoạch sử dụng đất hàng năm của địa phương trình UBND tỉnh phê duyệt để đảm bảo hồ sơ diện tích đất thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định đối với toàn bộ diện tích của thửa đất thuộc dự án, cụ thể như sau:

1. Trường hợp diện tích, kích thước thửa đất ở còn lại sau khi thu hồi không bảo đảm các điều kiện theo quy định dưới đây:

- Tại đô thị: diện tích đất còn lại sau khi thu hồi phải lớn hơn hoặc bằng ba mươi sáu mét vuông (36 m2) với bề rộng, chiều sâu thửa đất phải lớn hơn hoặc bằng ba mét (3 m);

- Tại nông thôn: diện tích đất còn lại sau khi thu hồi phải lớn hơn hoặc bằng bằng năm mươi mét vuông (50 m2) với chiều sâu, bề rộng lô đất phải lớn hơn hoặc bằng năm mét (5 m). Đối với khu vực đảo, diện tích đất còn lại sau khi thu hồi phải lớn hơn hoặc bằng bốn mươi lăm mét vuông (45 m2) với chiều sâu, bề rộng lô đất phải lớn hơn hoặc bằng bốn mét (4 m);

Thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thực hiện như sau:

a) Đối với phần diện tích còn lại của thửa đất ở đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: thực hiện khuyến khích chủ sử dụng đất chuyển nhượng cho chủ sử dụng thửa đất liền kề; thông báo, hướng dẫn cho người có đất thu hồi biết để thực hiện chuyển nhượng, thời hạn chuyển nhượng tính từ thời điểm lập biên bản kiểm kê đối với thửa đất đến ngày kết thúc niêm yết phương án bồi thường dự kiến (thời gian cụ thể do UBND cấp huyện quyết định cho phù hợp với từng đợt phê duyệt phương án bồi thường trong dự án đó). Trường hợp quá thời hạn chuyển nhượng mà người sử dụng đất chưa thực hiện chuyển nhượng thì tiến hành lập hồ sơ thu hồi phần diện tích đất này như trường hợp quy định tại điểm b, điểm c khoản này;

b) Đối với phần diện tích đất còn lại của thửa đất ở chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: thực hiện thông báo cho người có đất thu hồi biết thửa đất không đủ điều kiện thực hiện quyền chuyển nhượng theo quy định, đồng thời tiến hành lập hồ sơ thu hồi phần diện tích đất này;

c) Sau khi Nhà nước thu hồi và bồi thường, phần diện tích đất thu hồi do không bảo đảm các điều kiện theo quy định này bàn giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý nếu đất thuộc khu vực nông thôn, bàn giao cho Tổ chức phát triển quỹ đất quản lý nếu đất thuộc khu vực đô thị và khu vực đã được quy hoạch phát triển đô thị.

2. Trường hợp sau khi Nhà nước thu hồi đất mà diện tích đất nông nghiệp còn lại không đủ điều kiện để sản xuất theo mục đích sử dụng đất chính của loại đất nông nghiệp đó và người bị thu hồi đất có đơn đề nghị Nhà nước thu hồi luôn phần diện tích đất nông nghiệp còn lại này thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện thu hồi, giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý (nếu đất thuộc khu vực nông thôn), giao cho tổ chức phát triển quỹ đất quản lý (nếu đất thuộc khu vực đô thị và khu vực đã được quy hoạch phát triển đô thị) và bồi thường hỗ trợ theo quy định.

Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm phối hợp với cơ quan liên quan tại địa phương để kiểm tra và xác nhận phần diện tích đất nông nghiệp còn lại sau khi thu hồi không đủ điều kiện sản xuất.

Căn cứ mục đích sử dụng chính của loại đất sản xuất nông nghiệp theo quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt làm cơ sở xác định nếu không đảm bảo điều kiện để tiếp tục sản xuất thì báo cáo đề xuất cơ quan có thẩm quyền thu hồi để quyết định thu hồi đối với phần diện tích này.