vanban.org

Điều 22. Đánh giá kết quả đề tài, dự án ở cấp cơ sở — Quyết định 10/2007/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 25/09/2015 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 25/09/2015
Gia Lai Ban hành 05/02/2007 Hiệu lực 15/02/2007 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 19 năm
Quyết định số 10/2007/QĐ-UBND Ban hành Quy định về quản lý hoạt động nghiên cứu và áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ trên địa bàn tỉnh Gia Lai · 10/2007/QĐ-UBND
25/09/201523/2015/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 15/02/2007Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 10/2007/QĐ-UBND › Chương VI › Điều 22
Đọc toàn văn

Điều 22. Đánh giá kết quả đề tài, dự án ở cấp cơ sở

Đến thời hạn kết thúc đề tài, Chủ nhiệm đề tài có trách nhiệm nộp hồ sơ đánh giá cơ sở (kết quả nghiên cứu) và đề nghị Thủ trưởng cơ quan chủ trì thành lập Hội đồng để đánh giá kết quả nghiên cứu tại cơ sở.

Hội đồng có từ 7 đến 9 thành viên, là người có uy tín trong và ngoài cơ quan, là các cán bộ khoa học và công nghệ, cán bộ kinh tế, có chuyên môn phù hợp với lĩnh vực nghiên cứu của đề tài (không là thành viên, cộng tác viên của đề tài); Hội đồng đánh giá cơ sở cử ít nhất 2 thành viên làm phản biện.

Đối với những đề tài có các đề tài nhánh độc lập với nhau, có thể đánh giá từng đề tài nhánh trước khi đánh giá chung cả đề tài. Việc đánh giá đề tài nhánh cũng theo những quy định như đối với đánh giá chung cả đề tài.

Nội dung đánh giá, phương thức làm việc thực hiện theo quy định hiện hành, giao Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ hướng dẫn đối với từng trường hợp cụ thể.

Về xếp loại đề tài, Hội đồng đánh giá cơ sở xếp thành 2 mức đạt hoặc không đạt.

Đề tài được đánh giá ở mức đạt là đề tài được ít nhất 2/3 số thành viên Hội đồng có mặt nhất trí đã hoàn thành khối lượng công việc cơ bản với chất lượng đạt yêu cầu theo các chỉ tiêu đã nêu trong Hợp đồng. Các bài nhận xét, đánh giá của các thành viên vắng mặt chỉ để tham khảo.

Đề tài đánh giá không đạt ngoài không đạt được tỷ lệ nêu trên, còn vi phạm một trong các trường hợp sau:

- Chưa đạt hoặc không đạt được khối lượng công việc cơ bản và các chỉ tiêu chủ yếu so với Hợp đồng;

- Kết quả KH&CN không thể lặp lại được, không có giá trị khoa học hoặc không có giá trị sử dụng;

- Hồ sơ, tài liệu, số liệu cung cấp không trung thực;

- Vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc quản lý tài chính đối với kinh phí của đề tài (có kết luận bằng văn bản của các đoàn thanh tra, kiểm tra có thẩm quyền);

- Tự ý sửa đổi mục tiêu, nội dung và thay đổi thiết kế, kế hoạch thực hiện;

- Nộp hồ sơ đánh giá chậm so với thời hạn kết thúc Hợp đồng từ 6 tháng trở lên mà không có ý kiến chấp thuận của cơ quan quản lý.