Điều 24. Kiểm tra, giám sát và xử lý vốn vay ưu đãi
1. Kiểm tra, giám sát vốn vay
Quỹ có quyền kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của tổ chức, cá nhân, nhằm đôn đốc thực hiện đúng và đủ những cam kết đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng:
a) Kiểm tra trước khi cho vay: Là việc thẩm định các điều kiện vay vốn theo quy định;
b) Kiểm tra trong khi cho vay: Là việc kiểm tra tính đầy đủ, hợp pháp, hợp lệ của dự án vay vốn, hồ sơ pháp lý, hồ sơ vay vốn và các yếu tố khác,...
c) Kiểm tra sau khi cho vay: Sau khi giải ngân, Cơ quan điều hành Quỹ tiến hành kiểm tra việc sử dụng vốn vay. Nội dung kiểm tra:
- Kiểm tra việc sử dụng vốn vay theo mục đích đã ghi trong Hợp đồng tín dụng;
- Kiểm tra biện pháp tổ chức triển khai và tiến độ thực hiện dự án; đánh giá hiệu quả của dự án;
- Kiểm tra nguồn thu nhập của tổ chức, cá nhân vay; phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp; đánh giá tiến độ và khả năng trả nợ;
- Kiểm tra mức độ thiệt hại của dự án của bên vay khi xảy ra rủi ro bất khả kháng (bão, lũ lụt, cháy nổ, dịch bệnh...).
2. Xử lý vốn vay
Căn cứ vào kết quả kiểm tra và tùy theo mức độ vi phạm của bên vay quyết định xử lý như sau:
a) Tạm ngưng cho vay: Trong trường hợp bên vay sử dụng vốn vay sai mục đích, cung cấp thông tin sai sự thật;
b) Chấm dứt cho vay: Trong các trường hợp bên vay vi phạm Hợp đồng tín dụng, cam kết nhưng không khắc phục, sửa chữa; bên vay ngưng sản xuất có thể dẫn đến phá sản; quá trình tổ chức lại sản xuất không xác định được người chịu trách nhiệm chính trước pháp luật về quan hệ vay vốn và trả nợ;
c) Khởi kiện trước pháp luật trong các trường hợp sau:
- Bên vay vi phạm Hợp đồng tín dụng đã được thông báo bằng văn bản nhưng không khắc phục;
- Bên vay có nợ quá hạn do nguyên nhân chủ quan nhưng không có biện pháp khả thi để trả nợ;
- Bên vay có năng lực tài chính để trả nợ nhưng cố tình trốn tránh trả nợ theo thỏa thuận;
- Bên vay có hành vi lừa đảo, gian lận;
- Các vi phạm khác theo quy định của pháp luật.