Điều 11. Quy trình xử lý văn bản có dấu hiệu trái pháp luật :
1. Trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, cơ quan ban hành văn bản phải tổ chức tự kiểm tra, xử lý văn bản và thông báo kết quả xử lý cho cơ quan kiểm tra văn bản.
2. Trường hợp hết thời hạn xử lý theo quy định tại Khoản 1 Điều này cơ quan ban hành văn bản không tự kiểm tra, xử lý hoặc cơ quan kiểm tra văn bản không nhất trí với kết quả xử lý của cơ quan ban hành văn bản thì trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, cơ quan kiểm tra văn bản báo cáo cơ quan, người có thẩm quyền cấp trên trực tiếp xử lý theo quy định tại Điều 12 của Quy chế này.
Hồ sơ báo cáo gồm có: Báo cáo của cơ quan kiểm tra văn bản; văn bản được kiểm tra; cơ sở pháp lý để kiểm tra; phiếu kiểm tra văn bản; ý kiến của các cơ quan (nếu có); các công văn thông báo của cơ quan kiểm tra văn bản; các văn bản giải trình, thông báo kết quả tự kiểm tra, xử lý của cơ quan có văn bản được kiểm tra và các tài liệu khác có liên quan.
3. Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xử lý, cơ quan ban hành văn bản không nhất trí với kết quả xử lý thì giải trình và đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý xem xét lại kết quả xử lý.
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị nếu cơ quan, người có thẩm quyền xử lý không trả lời hoặc cơ quan ban hành văn bản không nhất trí thì có quyền báo cáo Thủ tướng Chính phủ (nếu cơ quan, người đã xử lý là Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh), báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh (nếu cơ quan, người đã xử lý là Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện).
4. Việc xử lý nghị quyết có dấu hiệu trái pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã phải được tiến hành tại kỳ họp gần nhất của Hội đồng nhân dân.