Điều 10. Quy trình thực hiện kiểm tra văn bản:
Việc kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật và văn bản được ban hành không đúng hình thức và thẩm quyền ban hành văn bản được tiến hành như sau:
1. Cơ quan kiểm tra văn bản phân công cán bộ thực hiện tự kiểm tra và kiểm tra theo thẩm quyền hoặc mời cộng tác viên thực hiện kiểm tra văn bản đối với các văn bản thuộc lĩnh vực chuyên môn.
2. Người được phân công kiểm tra có trách nhiệm đối chiếu nội dung văn bản được kiểm tra với văn bản làm cơ sở pháp lý xác định nội dung trái pháp luật để xem xét, đánh giá và kết luận về tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản được kiểm tra.
Văn bản đã được kiểm tra phải có chữ ký của người được phân công kiểm tra văn bản và ghi rõ ngày, tháng, năm kiểm tra vào góc trên của văn bản để xác nhận việc kiểm tra, thời điểm kiểm tra.
3. Khi phát hiện nội dung văn bản được kiểm tra có dấu hiệu trái pháp luật, người kiểm tra văn bản phải báo cáo kết quả kiểm tra và đề xuất xử lý thông qua Phiếu kiểm tra văn bản quy định tại mẫu 01 ban hành kèm theo Thông tư số 20/2010/TT-BTP.
Các dấu hiệu trái pháp luật được quy định tại Phiếu kiểm tra văn bản phải đảm bảo các nội dung: Về căn cứ pháp lý ban hành; thẩm quyền ban hành; nội dung ban hành; trình tự, thủ tục; thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản.
Tuỳ theo mức độ, nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra và hậu quả của nội dung trái pháp luật gây ra, mức độ lỗi của cơ quan, người đã ban hành văn bản, người kiểm tra văn bản có thể đề xuất hướng xử lý văn bản theo quy định tại điểm a, b Khoản 5 Điều 9 Thông tư số 20/2010/TT-BTP.
4. Sau khi lập phiếu kiểm tra, người kiểm tra văn bản phải lập "Hồ sơ về văn bản có nội dung trái pháp luật" và trình lãnh đạo cơ quan kiểm tra văn bản.
Hồ sơ bao gồm: Văn bản được kiểm tra, văn bản làm cơ sở pháp lý để xác định nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra, phiếu kiểm tra văn bản và các tài liệu khác có liên quan (nếu có).
5. Cơ quan kiểm tra văn bản thông báo theo thẩm quyền hoặc báo cáo cơ quan, người có thẩm quyền để thông báo nội dung có dấu hiệu trái pháp luật của văn bản được kiểm tra để cơ quan, người đã ban hành văn bản tự kiểm tra, xử lý, thông báo kết quả xử lý cho cơ quan kiểm tra văn bản theo quy định của pháp luật.
Văn bản thông báo, báo cáo cần phải có các nội dung cơ bản sau đây: Tên văn bản được kiểm tra; tên và nội dung văn bản làm cơ sở pháp lý để xác định nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra; ý kiến về nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra; yêu cầu cơ quan, người đã ban hành văn bản đó tự kiểm tra, xử lý và thông báo kết quả tự kiểm tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
Khi kiểm tra phát hiện nội dung của văn bản được kiểm tra, mâu thuẫn, chồng chéo, không còn phù hợp với văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên đã ban hành hoặc không phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội thì nội dung thông báo cần kiến nghị cơ quan, người đã ban hành văn bản nghiên cứu, rà soát xử lý các nội dung không còn phù hợp đó theo quy định của pháp luật.
6. Cơ quan kiểm tra văn bản phải mở Sổ theo dõi xử lý văn bản có dấu hiệu trái pháp luật quy định tại mẫu 02 ban hành kèm theo Thông tư số 20/2010/TT-BTP để theo dõi, đôn đốc việc xử lý văn bản của các cơ quan.