Điều 5. Nguyên tắc làm việc của Hội đồng
1. Yêu cầu đối với nhiệm vụ KH&CN
Các nhiệm vụ KH&CN phải đáp ứng được yêu cầu của Đề án phát triển KH&CN tỉnh theo từng giai đoạn, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; Mục tiêu, nội dung chủ yếu, kết quả dự kiến của Thuyết minh Tổng quát chương trình KH&CN đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt.
a) Đề tài nghiên cứu khoa học:
- Có ý nghĩa khoa học (tính mới, tính tiên tiến về công nghệ so với trình độ địa phương, trong nước và trên thế giới).
- Có ý nghĩa thực tiễn (trực tiếp hoặc góp phần quan trọng giải quyết những vấn đề cấp bách của sản xuất đời sống; có tác dụng đến phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ an ninh - quốc phòng của tỉnh).
- Tổ chức và cá nhân chủ trì thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học phải có năng lực chuyên môn phù hợp và các điều kiện tổ chức thực hiện.
b) Đề tài triển khai thực nghiệm:
- Có mục đích xây dựng các mô hình, điểm trình diễn, điểm thử nghiệm ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đã được đánh giá, nghiệm thu, thẩm định, công nhận bởi các cơ quan có tham quyền, lần đầu tiên triển khai trên địa bàn;
- Đề tài sau khi được đánh giá, nghiệm thu, các mô hình phải có khả năng nhân rộng và địa chỉ ứng dụng.
c) Dự án sản xuất thử nghiệm (SXTN):
- Có mục đích thử nghiệm, thích nghi, hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới.
- Có hiệu quả kinh tế - xã hội (tạo thêm việc làm, tiết kiệm nguyên nhiên liệu, bảo vệ môi trường v.v...).
Kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ phải có xuất xứ từ các nguồn: Kết quả các đề tài KH&CN trong nước, kết quả KH&CN từ nước ngoài đã được đánh giá, nghiệm thu, thẩm định, công nhận bởi các cơ quan có thẩm quyền; Các sáng chế, giải pháp hữu ích, sản phẩm khoa học được giải thưởng KH&CN.
d) Các đề tài KH&CN khác:
- Có tính cấp thiết theo yêu cầu của tỉnh, của ngành, địa phương, đơn vị.
- Có ý nghĩa khoa học, khảo sát, tổng kết thực tiễn, cung cấp luận cứ cho việc ban hành các quyết sách, quyết định về phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch, quản lý, đầu tư...
e) Thời gian thực hiện nhiệm vụ KH&CN không quá 36 tháng. Riêng đối với các nhiệm vụ KH&CN cần nghiên cứu trong thời gian dài thì thời gian thực hiện có thể kéo dài hơn, nhưng tối đa không quá 60 tháng.
2. Hội đồng đánh giá từng nhiệm vụ KH&CN.
3. Hội đồng có quyền yêu cầu sửa đổi hoặc bổ sung để làm rõ đối tượng nghiên cứu, mục tiêu cần đạt, nội dung, kết quả hoặc sản phẩm dự kiến.
4. Xác định nhiệm vụ KH&CN được đề nghị đưa vào danh mục thực hiện:
a) Nhiệm vụ KH&CN được đề nghị đưa vào danh mục thực hiện khi số phiếu đồng ý đưa vào thực hiện không ít hơn 2/3 tổng số phiếu.
Thứ tự ưu tiên đối với các nhiệm vụ KH&CN được sắp xếp dựa trên số lượng phiếu đồng ý đưa vào thực hiện. Trường hợp các nhiệm vụ KH&CN có số phiếu đề nghị bằng nhau, thì căn cứ vào kết quả bỏ phiếu đánh giá của Chủ tịch Hội đồng (hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng, trong trường hợp Chủ tịch Hội đồng vắng mặt) để ưu tiên xếp hạng.
b) Nhiệm vụ KH&CN được đề nghị đưa vào thực hiện được thực hiện dưới 02 (hai) hình thức và thông qua bằng hình thức bỏ phiếu:
- Chỉ định tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN: khi số phiếu đồng ý thực hiện chỉ định nhiều hơn 1/2 tổng số phiếu.
- Tuyển chọn tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN: khi số phiếu đồng ý thực hiện tuyển chọn nhiều hơn 1/2 tổng số phiếu.
Trường hợp số phiếu đồng ý thực hiện chỉ định và tuyển chọn bằng nhau thì căn cứ vào kết quả bỏ phiếu đánh giá của Chủ tịch Hội đồng (hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng, trong trường hợp Chủ tịch Hội đồng vắng mặt) để xác định hình thức thực hiện.
5. Tổng hợp phiếu đánh giá được lập thành biên bản.