Điều 17. Chi sự nghiệp kinh tế.
Chi sự nghiệp kinh tế bao gồm: Chi nông nghiệp, sự nghiệp lâm nghiệp và kiểm lâm, giao thông, thủy lợi; trợ giá giống cây, giống con, cấp I hóa giống lúa; hỗ trợ vùng nguyên liệu mía (nhà máy đường Sông Lam); hỗ trợ cho các đối tượng trồng dứa; bù lãi suất vốn vay mua giống, phân bón theo quyết định của UBND tỉnh; khảo sát quy hoạch địa chính; xóa đói giảm nghèo, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; bù lãi suất doanh nghiệp; bù lỗ doanh nghiệp công ích; chi sự nghiệp kiến thiết thị chính và chi hoạt động của bộ máy các đơn vị sự nghiệp kinh tế khác.
1. Các khoản chi sự nghiệp kinh tế, kiến thiết thị chính thuộc cấp huyện, thành thị quản lý là nhiệm vụ chi của ngân sách cấp huyện và được bố trí trong dự toán ngân sách huyện. Phòng tài chính huyện có trách nhiệm phân bổ chi tiết dự toán chi theo từng nội dung và mục lục ngân sách Nhà nước báo cáo UBND huyện xem xét để trình HĐND huyện quyết định.
2. Cấp bù lãi suất doanh nghiệp:
Năm 2001 tiếp tục thực hiện cơ chế cấp bù chênh lệch giữa lãi suất thương mại và lãi suất ưu đãi cho DNNN. Đối tượng được hưởng cấp bù chênh lệch lãi suất và các DNNN kinh doanh có hiệu quả, có dự án đầu tư (đầu tư chiều sâu hoặc mở rộng để nâng cao năng lực hiệu quả sản xuất kinh doanh) được UBND tỉnh phê duyệt. Giáo Sở Tài chính - Vật giá chủ trì phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư căn cứ vào chỉ tiêu kinh phí được bố trí trong dự toán ngân sách, trình phương án cấp bù hàng năm trình UBND tỉnh ra quyết định, căn cứ vào quyết định của UBND tỉnh, Sở Tài chính - Vật giá cấp phát kinh phí tới các đơn vị được hưởng với điều kiện phải đảm bảo đầy đủ các hồ sơ thủ tục: Hợp đồng tín dụng vay vốn ngân hàng thương mại; các chứng từ tính toán các khoản lãi vay; văn bản xác nhận nợ của ngân hàng thương mại; việc sử dụng vốn vay phải đảm bảo đúng theo dự án đã được UBND tỉnh phê duyệt.
3. Một số chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, chính sách trợ giá, trợ cước:
3.1. Kinh phí trợ giá giống lúa lai, ngô lai, khoai tây, trợ giá giống con:
Chi trợ giá đối với các huyện, thành phố, thị xã có trồng lúa lai, ngô lai, khoai tây, trợ giá cho các hộ gia đình đưa lợn nái hậu bị giống ngoại thuần có tỷ lệ nạc cao và sử dụng giống bò lai sin phối giống, chi trợ giá giống gốc theo đúng chủ trương và kế hoạch của tỉnh.. Giao Sở Nông nghiệp và PTNT chủ trì cùng với Sở Tài chính - Vật giá, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban Dân tộc và miền núi phân khai nguồn kinh phí này trình UBND tỉnh phê duyệt.
- Kinh phí thực hiện trợ giá lúa lai, ngô lai được bố trí từ 2 nguồn: ngân sách Trung ương ủy quyền (Chương trình 20/CP) và ngân sách địa phương.
- Mức trợ giá:
+ Đối với vụ Đông năm 2000: Thực hiện theo Quyết định số 73/2000/QĐ-UB ngày 22/9/2000 của UBND tỉnh về chính sách khuyến khích sản xuất vụ Đông năm 2000.
+ Đối với vụ Xuân năm 2001 và vụ hè thu, vụ mùa năm 2001: thực hiện theo Quyết định số 88/2000/QĐ-UB ngày 10/11/2000, Quyết định số 102/2000/QĐ-UB ngày 29/12/2000 của UBND tỉnh về chính sách hỗ trợ đầu tư thâm canh và mở rộng diện tích lạc, lúa lai và ngô lai.
- Hình thức cấp phát và quản lý:
+ Trợ giá lúa lai, ngô lai từ nguồn kinh phí chương trình 20/CP được cấp đến đơn vị cung ứng giống lúa theo kế hoạch của tỉnh và lượng giống các huyện thực nhận tại đơn vị cung ứng giống. Trợ giá lúa lai, ngôi lai, khoai tây bằng vốn ngân sách địa phương thì Sở Tài chính - Vật giá cấp phát theo hình thức kinh phí ủy quyền qua huyện theo mùa vụ và tiến độ trồng lúa lai, ngô lai, khoai tây. Chủ tịch UBND huyện, thành phố, thị xã là chủ tài khoản, trưởng phòng tài chính là kế toán trưởng của nguồn kinh phí này. UBND huyện, thành phố, thị xã chịu trách nhiệm xét duyệt, phân bổ và cấp phát đảm bảo đầy đủ, đúng mục đích, đúng đối tượng, kịp thời vụ. Đồng thời chịu trách nhiệm quyết toán nguồn kinh phí theo đúng chế độ tài chính hiện hành, tổng hợp để quyết toán với Sở Tài chính - Vật giá, Sở Nông nghiệp và PTNT, Ban Dân tộc và miền núi.
+ Kinh phí trợ giá cho hộ gia đình đưa lợn nái hậu bị giống ngoại thuần có tỷ lệ nạc cao và sử dụng giống bò lai sinh phối giống cải tạo đàn bò, Sở Tài chính - Vật giá cấp trực tiếp đến trung tâm giống chăn nuôi.
+ Chính sách hỗ trợ đầu tư nuôi tôm thâm canh:
Tỉnh khuyến khích các thành phần kinh tế nuôi tôm thâm canh trong vùng quy hoạch và phải ký hợp đồng bán tôm cho Công ty xuất nhập khẩu thủy sản Nghệ An. Cho các hộ nuôi tôm được vay vốn với lãi suất của chương trình xóa đói giảm nghèo. Tỉnh đầu tư hỗ trợ giống tôm với mức 30% theo giá thời điểm và hỗ trợ phần chênh lệch lãi suất giữa lãi suất tín dụng ưu đãi với lãi suất của chương trình xóa đói giảm nghèo. Đối với thuế sử dụng đất nông nghiệp thu từ diện tích nuôi tôm thâm canh, tỉnh sẽ đầu ta lại 100% để làm công tác khuyến ngư và đầu tư XDCB trên diện tích nuôi tôm thâm canh. Giao Sở Tài chính - Vật giá phối hợp với các ngành có liên quan căn cứ chỉ tiêu đầu tư và chính sách hỗ trợ đầu tư của tỉnh cân đối ngân sách hàng năm trình UBND tỉnh phê duyệt.
+ Các chủ tài khoản của nguồn kinh phí này có trách nhiệm phân bổ kinh phí theo đúng kế hoạch đã xây dựng, trực tiếp chỉ đạo thực hiện kế hoạch, quản lý, sử dụng nguồn kinh phí trợ giá này đúng mục đích, đúng đối tượng, kịp thời và có hiệu quả cao.
3.2. Chính sách hỗ trợ đầu tư cây dứa, đầu tư thâm canh, mở rộng diện tích trồng chè, cà phê.
Giao cho Sở Nông nghiệp và PTNT chỉ đạo Công ty đầu tư phát triển chè và Công ty đầu tư sản xuất và xuất nhập khẩu cà phê cao su. Công ty đầu tư phát triển miền núi phối hợp với UBND các huyện trọng điểm có đất bố trí trồng chè và cà phê xây dựng dự án đầu tư phát triển chè và cà phê.
Giao Sở Tài chính - Vật giá phối hợp với các ngành có liên quan căn cứ cỉ tiêu đầu tư pr chè, cà phê và chính sách hỗ trợ đầu tư tại Quyết định số 153/QĐUB ngày 15/12/1999 của UBND tỉnh cân đối ngân sách hàng năm trình UBND tỉnh phê duyệt. Căn cứ vào số thuế sử dụng đất nông nghiệp thực nộp hàng năm của 4 đơn vị (Công ty đầu tư và phát triển chè, Công ty đầu tư sản xuất và xuất nhập khẩu và phê cao su, Công ty đầu tư phát triển vùng dân tộc miền núi và Nông trường An Ngãi - Tân Kỳ) và các hồ sơ dự án được phê duyệt để cấp lại tiền thuế đến các đơn vị. Đồng thời hướng dẫn thực hiện quản lý cấp phát theo chế độ tài chính hiện hành.
3.3. Chính sách trợ giá nilon, cấp thuốc diệt cỏ, hỗ trợ lãi suất vay ứng trước nilon dùng để sản xuất lạc theo phương pháp tủ nilon và vay ứng giống, phân bón cho sản xuất nông nghiệp theo quyết định số 88/2000/QĐUB ngày 10/11/2000 và Quyết định số 102/2000/QĐUB của UBND tỉnh.
Năm 2001, tỉnh thực hiện chính sách hỗ trợ lãi suất cho hộ nông dân sản xuất lương thực và lạc vụ xuân. các hộ nông dân được vay ứng trước giống lúa lai tạp giao, nilon, phân bón NPK, đạm u rê và các ngành hàng (theo quy định của UBND tỉnh) trong thời gian 6 tháng không phải trả lãi suất (vay ứng từ đầu vụ sản xuất, hoàn trả lại sau khi thu hoạch). Định mức giống và giá vật tư vay ứng để hỗ trợ lãi suất theo quy định hiện hành Chủ tịch UBND huyện, thành phố, thị xã là chủ tài khoản của số tiền vay ứng giống và vật tư này.
Cuối vụ xuân năm 2001, các đơn vị ngành hàng cung ứng giống và vật tư theo Quyết định của UBND tỉnh lập hồ sơ quyết toán trình Sở Nông nghiệp và PTNT thẩm định trước khi hồ sơ được gửi đến Sở Tài chính - Vật giá để làm thủ tục cấp phát kinh phí phần lãi suất.
3.4. Đối với các khoản chi trợ giá, trợ cước:
Nguồn kinh phí liên quan đến ngành nào thì do ngành đó chủ trì (liên quan đến chính sách miền núi thì do ban dân tộc miền núi chủ trì, liên quan đến sản xuất nông nghiệp do Sở Nông nghiệp và PTNT chủ trì) phối hợp với Sở Tài chính - Vật giá, Sở Kế hoạch và Đầu tư (cơ quan thường trực Ban chỉ đạo chương trình quốc gia tỉnh) và UBND các huyện, thành phố, thị xã phân bổ trình UBND tỉnh quyết định chi tiết từng đơn vị. Sở Tài chính - Vật giá căn cứ vào kế hoạch trợ cước,trợ giá của UBND tỉnh và khối lượng thực hiện của các đơn vị để cấp phát.
Giám đốc các doanh nghiệp được giao nhiệm vụ vận chuyển các mặt hàng chính sách miền núi phải có kế hoạch vận chuyển (các mặt hàng thuộc diện trợ cước, trợ giá cho từng huyện) thông báo công khai để các huyện biết, đồng thời chịu trách nhiệm báo cáo quyết toán đầy đủ, kịp thời với Sở Tài chính - Vật giá.
3.5. Kinh phí trợ giá cho cơ quan Đảng:
Bao gồm: Bù lỗ giá thành báo Nghệ An, trợ giá xuất bản tờ tin nội bộ, sách chính trị và khoa học kỹ thuật, bản tin khoa học và ứng dụng; kinh phí cấp báo nhân dân, báo Nghệ An mỗi loại mỗi số đến các chi bộ nông thôn vùng núi, vùng giáo, chi bộ nông thôn của các xã ven biển có nhiều khó khăn thực hiện theo Quyết định số 722/QĐ-TU ngày 13/3/1998 của Ban thường vụ Tỉnh ủy.
Sở Tài chính - Vật giá phối hợp với Ban Tài chính tỉnh ủy căn cứ vào số lượng đối tượng được hưởng, giá thành và các ấn phẩm lên dự toán chi tiết trình UBND tỉnh quyết định.
4. Cơ chế điều hành và các khoản chi sự nghiệp kinh tế khác thuộc cấp tỉnh được thực hiện như sau:
4.1. Kinh phí xóa đói giảm nghèo:
Sau khi dự án xóa đói giảm nghèo được UBND tỉnh phê duyệt, tuỳ theo tiến độ triển khai, Sở Tài chính - Vật giá chuyển kinh phí qua ngân hàng người nghèo để cho vay. Ngân hàng người nghèo có trách nhiệm cho vay theo các dự án được duyệt, đồng thời đôn đốc thu hồi các khoản cho vay đã đến hạn trả, cùng với kinh phí ngân sách trích hàng năm tạo nên quỹ xóa đói giảm nghèo của tỉnh để cho vay luân chuyển.
4.2. Kinh phí bù lỗ doanh nghiệp công ích:
Căn cứ vào dự toán chi ngân sách được HĐND tỉnh thông qua, căn cứ vào dự toán thu chi của các doanh nghiệp công ích được duyệt, Sở Tài chính - Vật giá chủ trì phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư cùng các ngành có liên quan lên kế hoạch phân bổ cấp bù lỗ trình Chủ tịch UBND tỉnh quyết định giao chi tiết từng đơn vị.
Hàng tháng, căn cứ vào kế hoạch cấp bù của Chủ tịch UBND tỉnh và tiến độ thực hiện kế hoạch, Sở Tài chính - Vật giá chuyển kinh phí đến các đơn vị. Sau khi kết thúc năm, các DNNN hoạt động công ích được hưởng khoản kinh phí cấp bù có trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh doanh với Sở Tài chính - Vật giá, Sở Kế hoạch và Đầu tư và ngành chủ quản.
4.3. Kinh phí sự nghiệp giao thông (thuộc ngân sách địa phương):
Trên cơ sở dự toán ngân sách được HĐND tỉnh thông qua và quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh về bố trí ngân sách cho sự nghiệp giao thông, giao Sở Tài chính - Vật giá chủ trì cùng với Sở Giao thông vận tải phân khai cụ thể theo nội dung và chi tiết theo mục lục ngân sách Nhà nước. Đối với công việc sửa chữa nhỏ mang tính chất duy tu, bảo dưỡng thì hàng tháng căn cứ vào khả năng ngân sách, Sở Tài chính - Vật giá như kinh phí sự nghiệp bằng hình thức thông báo hạn mức. Riêng sửa chữa lớn, sửa chữa vừa thì phải thực hiện đúng chế độ quản lý cấp phát vốn sự nghiệp kinh tế có tính chất XDCB. Căn cứ vào dự toán vốn sự nghiệp có tính chất XDCB bố trí cho các dự án, căn cứ vào báo cáo giá trị khối lượng thực hiện và đề nghị của Sở giao thông vận tải có xác nhận của Kho bạc Nhà nước, Sở Tài chính - Vật giá cấp phát vốn qua Sở Giao thông vận tải để Sở Giao thông vận tải thanh toán với các doanh nghiệp công ích phụ trách duy tu bảo dưỡng giao thông.