Điều 9. Chế độ kiểm tra, giám sát
1. Chế độ kiểm tra, giám sát đối với dự án được giao quản lý
a) Thực hiện thường xuyên, liên tục theo kế hoạch hoặc đột xuất khi cần thiết; việc kiểm tra, giám sát được thực hiện trong tất cả các khâu, công đoạn, giai đoạn, từ khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư cho đến khi kết thúc dự án;
b) Nội dung kiểm tra, giám sát bao gồm: Tiến độ thực hiện, biện pháp thi công, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh môi trường chất lượng, khối lượng, chi phí đầu tư, những đề xuất, biện pháp cần thiết để thực hiện hoàn thành dự án;
c) Việc kiểm tra, giám sát phải căn cứ, tuân thủ bảo đảm theo đúng các quy định của pháp luật hiện hành, phù hợp với hình thức quản lý dự án, hợp đồng xây dựng.
2. Chế độ kiểm tra, giám sát các hoạt động trong nội bộ Ban Quản lý dự án
a) Thực hiện định kỳ theo kế hoạch hoặc đột xuất trong phạm vi và thẩm quyền được phân công về thực hiện nhiệm vụ được giao; bảo đảm cho hoạt động chỉ đạo, điều hành được thông suốt, đạt hiệu quả cao, giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật hành chính, tăng cường phòng chống tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực;
b) Thực hiện thống nhất, công khai, minh bạch, hiệu quả, tuân thủ theo quy định của pháp luật; trường hợp phát hiện có sai phạm thì tùy theo mức độ xử lý và đề xuất xử lý theo quy định của pháp luật;
c) Nội dung kiểm tra, giám sát nội bộ bao gồm: Kiểm tra, giám sát việc thực hiện nội quy, quy chế làm việc của đơn vị; chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp; Nghị quyết hội nghị cán bộ, viên chức; tác nghiệp thực hiện quản lý, điều hành; chế độ quản lý tài chính, tài sản, hoạt động thu chi của đơn vị; quy trình thực hiện quản lý đầu tư xây dựng; các nhiệm vụ chính trị, chuyên môn được giao; việc thực hiện các quy định của pháp luật và các nội dung khác theo hướng dẫn, yêu cầu của các cơ quan cấp trên, cơ quan có thẩm quyền.