Điều 7. Thời kỳ lấy số liệu và thời hạn gửi báo cáo
1. Đối với các báo cáo định kỳ:
a) Báo cáo hàng tháng: Thời kỳ lấy số liệu từ ngày 06 của tháng trước đến ngày 05 của tháng báo cáo và gửi báo cáo về Thanh tra tỉnh trước ngày 10 hàng tháng.
Đối với báo cáo của các tháng: 3, 6, 9 và tháng 12 không phải lập báo cáo riêng nhưng trong các biểu mẫu thống kê số liệu kèm theo báo cáo quý I, Quý II, Quý III và Quý IV phải có mục tách riêng số liệu của các tháng 3, 6, 9 và tháng 12.
b) Báo cáo hàng quý:
- Đối với báo cáo quý I: Thời kỳ lấy số liệu từ ngày 06 của tháng 12 năm trước đến ngày 05 tháng 3 của năm báo cáo; gửi báo cáo về Thanh tra tỉnh trước ngày 10 tháng 3 của năm báo cáo.
- Đối với báo cáo quý II, quý III, quý IV: Thời kỳ lấy số liệu từ ngày 06 của tháng cuối quý trước đến ngày 05 của tháng cuối quý báo cáo; gửi báo cáo về Thanh tra tỉnh trước ngày 10 của tháng cuối quý báo cáo.
c) Báo cáo 6 tháng: Thời kỳ lấy số liệu từ ngày 06 của tháng 12 năm trước đến ngày 05 tháng 6 của năm báo cáo; gửi báo cáo về Thanh tra tỉnh trước ngày 10 tháng 6 của năm báo cáo.
d) Báo cáo 9 tháng: Thời kỳ lấy số liệu từ ngày 06 của tháng 12 năm trước đến ngày 05 tháng 9 của năm báo cáo; gửi báo cáo về Thanh tra tỉnh trước ngày 10 tháng 9 của năm báo cáo.
đ) Báo cáo năm: Thời kỳ lấy số liệu từ ngày 06 tháng 12 năm trước đến ngày 05 tháng 12 của năm báo cáo; gửi báo cáo về Thanh tra tỉnh trước ngày 10 tháng 12 của năm báo cáo.
Khi có yêu cầu gửi báo cáo sớm hơn thời hạn quy định trên thì thực hiện theo văn bản hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền.
2. Đối với các báo cáo chuyên đề, đột xuất, thời kỳ lấy số liệu và thời hạn gửi báo cáo thực hiện theo yêu cầu của Thanh tra Chính phủ, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh và Thanh tra tỉnh.