Điều 24. Hỗ trợ tái định cư
1. Nhà ở, đất ở tái định cư được thực hiện theo nhiều cấp nhà, nhiều mức diện tích khác nhau phù hợp với mức bồi thường và khả năng chi trả của người được tái định cư.
Đối với hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất ở mà không có chỗ ở nào khác thì được giao đất ở hoặc nhà ở tái định cư.
Hộ gia đình, cá nhân nhận đất ở, nhà ở tái định cư mà số tiền được bồi thường, hỗ trợ nhỏ hơn giá trị một suất đất tái định cư tối thiểu thì được hỗ trợ khoản chênh lệch đó; trường hợp không nhận đất ở, nhà ở tại khu tái định cư thì dược nhận tiền tương đương với khoản chênh lệch đó.
Mức hỗ trợ cụ thể do Hội đồng bồi thường căn cứ vào điều kiện từng hộ, giá trị suất tái định cư tối thiểu, xây dựng và trình phê duyệt cùng với phương án bồi thường.
2. Suất tái định cư tối thiểu được quy định cụ thể ở các địa bàn như sau:
a. Tại các phường là 70m2;
b. Tại các thị trấn và các xã thuộc thị xã, thành phố là 100m2;
c. Tại các xã loại I và xã loại II là 150m2;
d. Tại các xã loại III là 200m2
3. Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất ở phải di chuyển chỗ ở mà tự lo chỗ ở (tự tái định cư) thì được hỗ trợ thêm một khoản tiền với các mức như sau:
a. Đối với các dự án có quy mô số hộ dân phải di dời chỗ ở trên 200 hộ thì mỗi hộ tự tái định cư được hỗ trợ: 100.000.000 đ/hộ.
b. Đối với các dự án có quy mô số hộ dân phải di dời chỗ ở trên 50 hộ đến 200 hộ và Khu vực thị xã, thành phố, Khu kinh tế, Khu công nghiệp tập trung thì mỗi hộ tự tái định cư được hỗ trợ: 80.000.000 đ/hộ.
c. Đối với dự án thuộc khu vực các huyện có quy mô số hộ dân phải di dời chỗ ở từ 50 hộ trở xuống thì mỗi hộ tự tái định cư được hỗ trợ: 50.000.000 đ/hộ.