Điều 9. Xử lý công trình vi phạm trật tự xây dựng vượt thẩm quyền xử phạt; công trình xây dựng bị buông lỏng, không kịp thời xử lý
1. Trường hợp việc xử phạt hành vi vi phạm trật tự xây dựng có nhiều tình tiết phức tạp, vượt thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND cấp xã thì trong thời gian 05 ngày kể từ khi lập biên bản vi phạm hành chính, Chủ tịch UBND cấp xã phải chuyển toàn bộ hồ sơ xử lý vi phạm đến Phòng chuyên môn về xây dựng cấp huyện để kiểm tra, rà soát và trình Chủ tịch UBND cấp huyện xem xét xử phạt theo quy định. Nếu hành vi vi phạm vượt thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND cấp huyện thì trong thời gian 07 ngày kể từ khi lập biên bản vi phạm hành chính, Chủ tịch UBND cấp xã phải chuyển toàn bộ hồ sơ xử lý vi phạm đến Thanh tra Sở Xây dựng để kiểm tra, rà soát, trình Giám đốc Sở Xây dựng báo cáo, đề xuất Chủ tịch UBND tỉnh xem xét, xử phạt theo quy định.
Trường hợp việc xử phạt hành vi vi phạm trật tự xây dựng vượt thẩm quyền xử phạt của Chánh Thanh tra Sở Xây dựng thì Chánh Thanh tra Sở Xây dựng trình Giám đốc Sở Xây dựng báo cáo, đề xuất Chủ tịch UBND tỉnh xem xét, xử phạt theo quy định.
2. Trong trường hợp phát hiện công trình vi phạm trật tự xây dựng thuộc thẩm quyền xử lý của UBND cấp xã mà công chức quản lý trật tự xây dựng cấp xã buông lỏng, không kịp thời xử lý thì Bộ phận quản lý trật tự xây dựng địa bàn lập biên bản vi phạm hành chính, xử lý theo quy định và tổng hợp, báo cáo Chánh Thanh tra Sở Xây dựng, Chánh Thanh tra Sở Xây dựng kiến nghị kiểm điểm làm rõ trách nhiệm.
Trường hợp phát hiện công trình vi phạm trật tự xây dựng thuộc thẩm quyền xử lý của Thanh tra Sở Xây dựng mà Bộ phận quản lý trật tự xây dựng địa bàn buông lỏng, không kịp thời xử lý thì Chủ tịch UBND cấp xã có văn bản gửi Chánh Thanh tra Sở Xây dựng để kịp thời chỉ đạo xử lý và kiểm điểm làm rõ trách nhiệm theo quy định.