Điều 7. Quản lý kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ
Việc quản lý kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ gồm quản lý hành lang an toàn đường bộ; quản lý tải trọng phương tiện lưu hành; kiểm tra, đánh giá tình trạng kỹ thuật và thực hiện chế độ báo cáo định kỳ, đột xuất.
1. Quản lý hành lang an toàn đường bộ
Đất dành cho đường bộ chỉ dành để xây dựng công trình đường bộ, sử dụng và khai thác để phục vụ cho mục đích an toàn giao thông vận tải đường bộ. Trong trường hợp cần thiết có thể cho phép xây dựng một số công trình thiết yếu như sau:
a) Công trình phục vụ yêu cầu bảo đảm an ninh, quốc phòng;
b) Công trình có yêu cầu đặc biệt về kỹ thuật không thể bố trí ngoài phạm vi đất dành cho đường bộ;
c) Công trình phải bố trí trên cùng một mặt bằng với công trình đường bộ để bảo đảm tính đồng bộ và tiết kiệm.
Khi xây dựng các công trình trong phạm vi đất và không gian dành cho hành lang an toàn đường bộ phải bảo đảm khai thác an toàn công trình đường bộ và phải được cơ quan quản lý đường bộ đồng ý trong bước lập dự án đầu tư.
Trước khi thi công xây dựng, chủ đầu tư xây dựng các công trình trong phạm vi hành lang an toàn đường bộ phải có giấy phép thi công của cơ quan quản lý nhà nước về đường bộ có thẩm quyền.
Hành lang an toàn đường bộ thực hiện theo quy định tại các điều từ 14 đến 21 của Nghị định số 11/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 02 năm 2010 của Chính phủ. Đối với đường dân sinh và các công trình, hạng mục khác trên đó hành lang an toàn được xác định theo hiện trạng sử dụng đất.
Trình tự, thủ tục cấp giấy phép thi công thực hiện theo các quy định và hướng dẫn của Bộ Giao thông vận tải, Cục đường bộ Việt Nam; hướng dẫn thực hiện chi tiết tại phụ lục 5 kèm theo Quy định này.
2. Quản lý tải trọng phương tiện lưu hành
a) Không cho phép lưu thông các phương tiện có tổng tải trọng vượt tải trọng cho phép của cầu đường. Tải trọng cho phép lưu thông được xác định theo tải trọng thiết kế hoặc theo kết quả đánh giá, kiểm định chất lượng công trình và do cơ quan có thẩm quyền công bố.
b) Trường hợp cần thiết do vận chuyển những loại hàng hoá không thể tháo rời được, phương tiện có thể lưu thông vượt tải trọng cho phép của cầu, đường nhưng phải có giấy phép của cơ quan quản lý nhà nước về đường bộ có thẩm quyền. Trong trường hợp cần thiết cơ quan có thẩm quyền có thể yêu cầu chủ phương tiện thực hiện những biện pháp gia cố để tăng tải trọng cầu đường trước khi lưu hành để đảm bảo an toàn công trình.
Quy định về tải trọng, khổ giới hạn của đường bộ, lưu hành xe quá tải trong, xe quá khổ giới hạn, xe bánh xích trên đường bộ; vận chuyển hàng siêu trường, siêu trọng; giới hạn xếp hàng hoá trên phương tiện giao thông đường bộ thực hiện theo theo Thông tư số 07/2010/TT-BGTVT ngày 11 tháng 02 năm 2010 của Bộ Giao thông vận tải.
c) Thẩm quyền công bố tải trọng cầu đường và cấp giấy phép lưu hành đặc biệt:
Đối với hệ thống đường tỉnh: Uỷ ban nhân dân tỉnh công bố tải trọng, Sở Giao thông vận tải có trách nhiệm cấp giấy phép lưu hành đặc biệt cho xe quá khổ, quá tải cầu đường, giải quyết thủ tục cấp giấy phép vận chuyển siêu trường, siêu trọng.
Đối với hệ thống đường huyện, đường đô thị, đường xã và đường dân sinh trong các đô thị trên địa bàn: Uỷ ban nhân dân cấp huyện công bố tải trọng, cơ quan quản lý đường bộ cấp huyện cấp giấy phép cho xe quá khổ, quá tải cầu đường, giải quyết thủ tục cấp giấy phép vận chuyển siêu trường, siêu trọng.
Ủy ban nhân dân cấp xã công bố tải trọng đối với hệ thống đường dân sinh ở khu vực nông thôn và giải quyết các trường hợp lưu hành quá khổ, quá tải cầu đường.
3. Kiểm tra, đánh giá tình trạng kỹ thuật
Việc kiểm tra, đánh giá tình trạng kỹ thuật đường bộ phải được tổ chức định kỳ hàng tháng, hàng quý, năm, kiểm tra đột xuất sau mỗi đợt lụt, bảo hoặc tác động bất thường khác.
Theo dõi tình hình khai thác và các hư hại của công trình đường bộ, tình hình tai nạn, phân làn, phân luồng, tổ chức giao thông, điều chỉnh hệ thống báo hiệu đường bộ, trực đảm bảo giao thông, theo dõi tình hình thời tiết, ngập lụt, các sự cố công trình, xử lý và báo cáo theo quy định.