Điều 10. Nguồn vốn quản lý và bảo trì đường bộ
Nguồn vốn dành cho công tác quản lý và bảo trì đường bộ sử dụng từ nguồn chi thường xuyên cho sự nghiệp giao thông, nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung, nguồn thu từ khai thác quỹ đất, nguồn thu phí, lệ phí liên quan đến đường bộ trên địa bàn tỉnh được để lại theo quy định của nhà nước và các nguồn thu khác (gọi chung là ngân sách); đối với loại đường giao thông nông thôn có thêm kinh phí do nhân dân đóng góp.
1. Ngân sách tỉnh
Bố trí cho quản lý và bảo trì các tuyến đường ĐT;
Hỗ trợ cho ngân sách cấp huyện để quản lý và bảo trì các tuyến ĐH: mức hỗ trợ 20% nhu cầu; hỗ trợ công tác sửa chữa có sử dụng vật liệu đối với các tuyến đường giao thông nông thôn: mức hỗ trợ 30% nhu cầu.
2. Ngân sách huyện
Bố trí cho quản lý và bảo trì các tuyến đường ĐH;
Hỗ trợ cho quản lý và bảo trì các tuyến giao thông nông thôn, mức hỗ trợ 30% nhu cầu cho công tác sửa chữa có sử dụng vật liệu.
3. Huy động đóng góp của nhân dân
Huy động đóng góp của nhân dân để bảo trì các tuyến giao thông nông thôn, hình thức huy động bằng công lao động để thực hiện các công việc đơn giản như phát cây, dẩy cỏ, vét rãnh thoát nước, khơi thông dòng chảy, đắp bù nền đường ...
Huy động các loại đóng góp khác để thực hiện công tác sửa chữa phức tạp, có sử dụng vật liệu: Tổ chức thực hiện theo Quy chế tài chính và quản lý xây dựng các công trình kiên cố hoá mặt đường giao thông nông thôn ban hành theo Quyết định số 29/2009/QĐ-UBND ngày 21 tháng 9 năm 2009 của UBND tỉnh; ngân sách tỉnh hỗ trợ 30% chi phí, ngân sách huyện hỗ trợ 30% chi phí, 40% còn lại huy động đóng góp của nhân dân bằng ngày công, vật liệu và bằng đóng góp khác.
4. Việc phân bổ ngân sách hàng năm để quản lý và bảo trì đường bộ thực hiện theo Luật Ngân sách.