Điều 10. Xác định trọng yếu kiểm toán
Thực hiện theo hướng dẫn từ Đoạn 21 đến Đoạn 42 CMKTNN 1320 - Xác định và vận dụng trọng yếu trong kiểm toán tài chính, trong đó cần lưu ý:
1. Xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSBN (theo Phụ lục 03/HD-RRTY-NSBN)
a) Xác định tiêu chí được sử dụng để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSBN
- Việc xác định tiêu chí để xác định mức trọng yếu tổng thể đối với BCNSBN phụ thuộc vào xét đoán chuyên môn của KTVNN về nhu cầu thông tin của đa số người sử dụng báo cáo quan tâm nhiều nhất đến chỉ tiêu nào.
- Thông thường, chỉ tiêu quan tâm của các cơ quan quản lý nhà nước, công chúng và lãnh đạo các bộ, ngành là tổng kinh phí được sử dụng trong năm, kinh phí đề nghị quyết toán trong báo cáo quyết toán kinh phí hoạt động; tổng doanh thu, chi phí trong báo cáo kết quả hoạt động, vì vậy KTVNN có thể lựa chọn một hoặc một số chỉ tiêu này trong từng báo cáo làm tiêu chí ước tính mức trọng yếu tổng thể đối với tổng thể BCNSBN. Tùy từng trường hợp cụ thể, KTVNN phải sử dụng xét đoán chuyên môn để quyết định lựa chọn tiêu chí phù hợp.
- Việc xác định tiêu chí để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSBN phụ thuộc vào xét đoán chuyên môn của KTVNN, tùy thuộc vào đặc điểm của bộ, ngành, quy mô ngân sách, cơ chế tài chính đặc thù chi phối hoạt động của đơn vị được kiểm toán...
Ví dụ: Xuất phát từ đặc điểm hoạt động của bộ, ngành sẽ tác động đến tỷ trọng các nguồn kinh phí NSNN cấp và kinh phí quyết toán trong năm cũng như tình hình thu, chi hoạt động dịch vụ. Trong trường hợp kinh phí đề nghị quyết toán trong năm chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kinh phí được sử dụng tại báo cáo quyết toán kinh phí hoạt động thì lựa chọn tiêu chí kinh phí đề nghị quyết toán trong năm. Ngược lại, kinh phí đề nghị quyết toán chiếm tỷ trọng thấp trong tổng kinh phí được sử dụng thì lựa chọn tiêu chí kinh phí được sử dụng; hoặc tại một số bộ, ngành nguồn kinh phí được khấu trừ để lại nhiều thì lựa chọn tiêu chí kinh phí được sử dụng để đánh giá tính phù hợp của cơ chế tài chính đơn vị áp dụng...
- Việc lựa chọn các tiêu chí xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSBN cần có sự thống nhất, đồng bộ tối đa với tất cả các đơn vị dự toán thuộc bộ, ngành.
- Trong trường hợp chỉ kiểm toán một số thông tin, yếu tố của BCNSBN, thì thông tin, yếu tố đó có thể là tiêu chí phù hợp để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSBN.
Ví dụ: Nếu chỉ kiểm toán kinh phí được sử dụng, không quan tâm đến kinh phí quyết toán trong năm, có thể lựa chọn tiêu chí kinh phí được sử dụng làm tiêu chí để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSBN.
b) Lấy giá trị tiêu chí được lựa chọn để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSBN
- Giá trị tiêu chí xác định trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán thường dựa trên số liệu báo cáo của đơn vị. Một số trường hợp vào giai đoạn lập kế hoạch bộ, ngành chưa hoàn thành BCNSBN giá trị các tiêu chí được lấy theo số ước tính theo báo cáo của đơn vị.
- Giá trị của tiêu chí lựa chọn xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSBN cần được dựa trên các dữ liệu tài chính phù hợp. Những dữ liệu này thường bao gồm các số liệu về kết quả hoạt động và tình hình thực hiện dự toán trong kỳ được kiểm toán. Tùy theo hoàn cảnh cụ thể, KTVNN có thể điều chỉnh tăng, giảm giá trị tiêu chí cho phù hợp khi loại trừ các biến động lớn hoặc có những thay đổi quan trọng có liên quan đến môi trường hoạt động của bộ, ngành.
c) Lựa chọn tỷ lệ (%) xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSBN
- Trên cơ sở khung tỷ lệ xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSBN quy định tại Khoản 1 Điều 6 của Hướng dẫn này, KTVNN phải sử dụng xét đoán chuyên môn khi xác định tỷ lệ % áp dụng cho tiêu chí đã lựa chọn cho từng cuộc kiểm toán, phụ thuộc vào hiểu biết của KTVNN về mức độ sai sót có thể ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng BCNSBN.
- Tùy theo từng bộ, ngành với cùng một tiêu chí lựa chọn nhưng tỷ lệ % tương ứng để xác định mức trọng yếu có thể khác nhau, chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố: đặc điểm; quy mô bộ, ngành; lĩnh vực hoạt động; cơ chế chính sách, cơ chế tài chính... (chi tiết xem Bảng 2).
Bảng 2. Nhân tố ảnh hưởng đến trị số của các tiêu chí lựa chọn mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSBN
| TT | Trị số của các tiêu chí lựa chọn | |
| Hướng tới tỷ lệ % cao trong khung | Hướng tới tỷ lệ % thấp trong khung | |
| 1 | Đơn vị sử dụng ít nguồn kinh phí, các khoản chi cơ bản đã có định mức ban hành theo quy định của Nhà nước | Đơn vị sử dụng nhiều nguồn kinh phí, loại khoản kinh phí, nhiều khoản chi đặc thù không có định mức theo quy định của Nhà nước |
| 2 | Ảnh hưởng đến ít người sử dụng báo cáo. | Ảnh hưởng đến nhiều người sử dụng báo cáo. |
| 3 | Bộ, ngành có quy mô nhỏ, ít đơn vị, đầu mối trực thuộc. | Bộ, ngành có quy mô lớn, nhiều đơn vị, đầu mối trực thuộc. |
| 4 | Đơn vị hoạt động theo cơ chế chính sách, tài chính thông thường. | Đơn vị hoạt động theo cơ chế chính sách, tài chính đặc thù. |
| 5 | Đơn vị đang trong giai đoạn ổn định cơ chế, chính sách | Đơn vị đang trong giai đoạn chịu ảnh hưởng bởi sự điều chỉnh, thay đổi của cơ chế, chính sách |
| 6 | Hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị có hiệu lực | Hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị thấp hoặc không có hiệu lực |
| 7 | ................................... | ...................... |
Lưu ý: Các yếu tố trên chỉ mang tính định hướng, có nhiều nhân tố khác ảnh hưởng đến tính phù hợp của mức trọng yếu tùy từng trường hợp cụ thể của bộ, ngành được kiểm toán.
d) Xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSBN:
| Mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSBN | = | Tỷ lệ phần trăm (%) xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSBN | x | Giá trị tiêu chí lựa chọn để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSBN |
Ví dụ: Theo số liệu báo cáo quyết toán của Bộ A là một Bộ có nguồn kinh phí sử dụng đề nghị quyết toán 1.300.000 triệu đồng, tỷ lệ lựa chọn 0,7%. Do đó tỷ lệ xác định mức trọng yếu tổng thể khi lập kế hoạch là 9.100 triệu đồng. Điều này có nghĩa, nếu sai sót của BCNSBN từ 9.100 triệu đồng trở lên sẽ ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng BCNSBN (chi tiết xem Bảng 3).
Bảng 3. Xác định trọng yếu kiểm toán
3.1. Xác định trọng yếu kiểm toán báo cáo quyết toán kinh phí hoạt động
| Nội dung | Kế hoạch | |
Tiêu chí được sử dụng để ước tính mức trọng yếu | Tổng kinh phí quyết toán | |
| Nguồn số liệu để xác định mức trọng yếu | Báo cáo quyết toán kinh phí hoạt động trước kiểm toán | |
| Lý do lựa chọn tiêu chí này | Kinh phí quyết toán chiếm tỷ trọng lớn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kinh phí được sử dụng (90%) | |
| Giá trị tiêu chí được lựa chọn | (a) | 1.300.000trđ |
| Tỷ lệ sử dụng để ước tính mức trọng yếu | (b) | 0,7% |
| Lý do lựa chọn tỷ lệ này | Trong tổng kinh phí quyết toán có kinh phí chi đầu tư và chi sự nghiệp tăng nhiều so với năm trước; có nhiều nghiệp vụ phức tạp, hệ thống kiểm soát nội bộ không hiệu quả. | |
| Mức trọng yếu đối với tổng thể báo cáo quyết toán kinh phí hoạt động | (c)=(a)*(b) | 9.100trđ |
| Tỷ lệ sử dụng để ước tính mức trọng yếu thực hiện | (d) | 50% mức trọng yếu tổng thể |
| Lý do lựa chọn tỷ lệ này | Do Bộ A có nhiều nghiệp vụ phức tạp, hệ thống kiểm soát nội bộ được đánh giá không hiệu quả. | |
| Mức trọng yếu thực hiện | (e)=(c)*(d) | 4.550trđ |
| Tỷ lệ sử dụng để ước tính ngưỡng sai sót không đáng kể | (f) | 1% Mức trọng yếu tổng thể |
| Lý do lựa chọn tỷ lệ này | Do Bộ A có nhiều nghiệp vụ phức tạp, hệ thống kiểm soát nội bộ được đánh giá không hiệu quả, có thể tiềm ẩn nhiều sai sót. | |
| Ngưỡng sai sót không đáng kể | (g) = (c)*(f) | 91trđ |
3.2. Xác định trọng yếu kiểm toán báo cáo tài chính
| Nội dung | Kế hoạch | |
| Tiêu chí được sử dụng để ước tính mức trọng yếu | Tổng doanh thu | |
| Nguồn số liệu để xác định mức trọng yếu | BCTC trước kiểm toán | |
| Lý do lựa chọn tiêu chí này | Đơn vị có số thu lớn và tăng đột biến trong năm. Mặt khác, hoạt động trong năm có thặng dư. | |
| Giá trị tiêu chí được lựa chọn | (a) | 1.000.000 trđ |
| Tỷ lệ sử dụng để ước tính mức trọng yếu | (b) | 0,7% |
| Lý do lựa chọn tỷ lệ này | Do đơn vị lớn, nhiều khoản thu, trong đó có một số khoản thu phức tạp nên lựa chọn tỷ lệ 0,7% trên doanh thu. | |
| Mức trọng yếu đối với tổng thể BCTC | (c)=(a)*(b) | 7.000 trđ |
| Tỷ lệ sử dụng để ước tính mức trọng yếu thực hiện | (d) | [50%-75%]. Chọn: 50% |
| Lý do lựa chọn tỷ lệ này | Do đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị không hiệu quả nên chọn mức thấp 50% | |
| Mức trọng yếu thực hiện (1) | (e)=(c)*(d) | 3.500 trđ |
| Tỷ lệ sử dụng để ước tính ngưỡng sai sót không đáng kể | (f) | [dưới 3%]. Chọn 1% |
| Lý do lựa chọn tỷ lệ này | Do đây là đơn vị có hoạt động kinh doanh dịch vụ phức tạp, có thể tiềm ẩn nhiều sai sót | |
| Ngưỡng sai sót không đáng kể | (g)=(c)*(f) | 70 trđ |
2. Xác định mức trọng yếu đối với khoản mục cần lưu ý (theo Phụ lục 04/HD-RRTY-NSBN)
- Trong một số trường hợp đặc biệt, có thể có các khoản mục có thể có sai sót với mức thấp hơn mức trọng yếu tổng thể đối với BCNSBN nhưng vẫn ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng thì KTVNN phải xác định mức trọng yếu hoặc các mức trọng yếu áp dụng cho từng khoản mục này. KTVNN có thể dựa vào xét đoán chuyên môn của mình để xác định mức trọng yếu đối với các khoản mục cần lưu ý hoặc vận dụng tỷ lệ % trong khung tỷ lệ tại chính sách xác định mức trọng yếu kiểm toán để xác định tương tự như đối với xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSBN. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp thì mức trọng yếu đối với khoản mục cần lưu ý đều được xác định ở mức thấp hơn mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSBN.
- Đối với những khoản mục trọng yếu về bản chất hoặc hậu quả của sai sót tại khoản mục đó nếu xảy ra là nghiêm trọng thì mức trọng yếu được xác định ở mức thấp. Trường hợp có những khoản mục có yêu cầu chính xác cao về số liệu, mức trọng yếu đối với khoản mục có thể được xác định ở mức rất thấp (mức trọng yếu gần bằng 0). Khi đó, KTVNN có thể cần kiểm toán toàn bộ các giao dịch có liên quan nhằm phát hiện tất cả các sai sót có liên quan đến khoản mục.
Ví dụ: Trên báo cáo kết quả hoạt động của Bộ A, chỉ tiêu chi phí thuế TNDN là 6.000 triệu đồng, mặc dù nhỏ hơn mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSBN (báo cáo tài chính) nhưng là chỉ tiêu quan trọng liên quan đến nghĩa vụ với NSNN, nên xác định mức trọng yếu riêng. Khi đó, KTVNN có thể dựa vào xét đoán chuyên môn của mình để xác định mức trọng yếu đối với khoản mục ở mức thấp hơn mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSBN. Giả sử KTVNN chọn tỷ lệ 0,7% trên giá trị của khoản mục cần lưu ý. Mức trọng yếu đối với khoản mục này được xác định là: 0,7% x giá trị khoản mục chi phí thuế TNDN = 0,7% x 6.000 triệu đồng = 42 triệu đồng (Chi tiết xem Bảng 4).
Bảng 4: Xác định mức trọng yếu thực hiện và ngưỡng sai sót không đáng kể của khoản mục cần lưu ý
| Các khoản mục cần lưu ý | Giá trị khoản mục | Xác định mức trọng yếu khoản mục lưu ý | Xác định mức trọng yếu thực hiện của khoản mục lưu ý | Xác định ngưỡng sai sót không đáng kể | Mô tả cách xác định | |||
| Tỷ lệ % | Mức trọng yếu | Tỷ lệ % | Mức trọng yếu | Tỷ lệ % | Ngưỡng sai sót không đáng kể | |||
| (1) | (2) | (3) | (4=3x2) | (5) | (6=5x4) | (7) | (8=7x4) | (9) |
| 1. Chi phí thuế TNDN | 6.000 trđ | 0,7% | 42 trđ | 50% | 21 trđ | 1% | 0,42trđ | Do là chỉ tiêu rất quan trọng |
| .... | ||||||||
3. Xác định các khoản mục trọng yếu
Trên cơ sở mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSBN và mức trọng yếu đối với các khoản mục cần lưu ý, KTVNN xác định các khoản mục trọng yếu (theo Phụ lục 05/HD-RRTY-NSBN):
a) Khi lập kế hoạch kiểm toán, KTVNN cần xác định các khoản mục trọng yếu trên BCNSBN làm cơ sở để đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ cơ sở dẫn liệu, thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm toán tiếp theo trong quá trình thực hiện kiểm toán.
b) Việc xác định các khoản mục có là trọng yếu hay không cần xem xét cả về định lượng và định tính trong hoàn cảnh cụ thể:
- Xét về mặt định lượng: các khoản mục trên BCNSBN có giá trị vượt quá mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSBN có thể xác định là trọng yếu vì có thể chứa đựng sai sót lớn hơn mức trọng yếu tổng thể.
Ví dụ: Với tiêu chí được lựa chọn khi xác định mức trọng yếu tổng thể là kinh phí đề nghị quyết toán, tỷ lệ sử dụng để xác định mức trọng yếu là 0,7%, giá trị tiêu chí được lựa chọn 1.300.000 triệu đồng, mức trọng yếu tổng thể là 9.100 triệu đồng; xét về mặt định lượng các khoản mục trên BCNSBN có giá trị lớn hơn 9.100 triệu đồng có thể được xác định là trọng yếu.
- Xét về mặt định tính: Việc xác định các khoản mục trọng yếu không chỉ đơn thuần là việc xem xét về giá trị của các khoản mục trên BCNSBN mà cần phải sử dụng xét đoán chuyên môn khi xem xét các yếu tố định tính trong hoàn cảnh cụ thể. Một khoản mục có giá trị nhỏ hơn mức trọng yếu có thể là trọng yếu khi xem xét các yếu tố định tính nếu khoản mục là quan trọng và có khả năng chứa đựng sai sót, gian lận. Ngược lại, một khoản mục có giá trị lớn hơn mức trọng yếu có thể không xác định là trọng yếu nếu KTVNN có đủ cơ sở, bằng chứng xác định khoản mục không chứa đựng sai sót trọng yếu (chi tiết xem Bảng 5).
Bảng 5. Xác định các khoản mục trọng yếu về định tính
| TT | Khoản mục | Giá trị (triệu đồng) | Khoản mục trọng yếu (Có/Không) | Lý do |
| 1 | Chi đào tạo lại | 5.600 | Có | Quy mô nhỏ hơn mức trọng yếu, đây là khoản chi có tính chất phức tạp luôn tiềm ẩn các sai sót, sai phạm của các đơn vị trong quá trình quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công. |
| 2 | Chi mua sắm tài sản | 5.000 | Có | |
| 3 | Chi thanh toán cá nhân | 100.000 | Không | Quy mô lớn hơn mức trọng yếu, nhưng có bằng chứng chắc chắn: không có biến động, hệ thống kiểm soát hiệu quả qua thử nghiệm. |
| .... |
c) Khi xác định các khoản mục trọng yếu, KTVNN thường xem xét các chỉ tiêu trên BCNSBN. Tuy nhiên, các thành phần chi tiết của chỉ tiêu trên BCNSBN cũng có thể được xem xét để xác định liệu những thành phần chi tiết đó có phải là trọng yếu hay không.
d) Khi đánh giá tính trọng yếu của các khoản mục KTVNN cần xem xét cả quy mô, bản chất cũng như nội dung của từng khoản mục trong hoàn cảnh cụ thể. Các yếu tố định lượng và định tính liên quan đến việc xác định các khoản mục trọng yếu có thể bao gồm các yếu tố sau:
- Độ lớn và thành phần chi tiết của các khoản mục, số lượng của các giao dịch, mức độ phức tạp và tính đồng nhất của các giao dịch liên quan đến khoản mục (ví dụ: Các khoản mục có số kinh phí đề nghị quyết toán lớn, phức tạp có thể chứa đựng sai sót trọng yếu);
- Khả năng có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn của khoản mục (ví dụ: Quyết toán sai nguồn kinh phí;...);
- Bản chất của các khoản mục (các khoản mục dễ bị tác động để làm thay đổi nguồn kinh phí được sử dụng, như số dư kinh phí năm trước chuyển sang không còn nhiệm vụ chi hoặc dự toán được giao trong năm nhưng không chi tiết, cụ thể làm cơ sở thực hiện...);
- Sự phức tạp trong hạch toán kế toán và lập báo cáo các khoản mục (ví dụ: Các nghiệp vụ xảy ra trong thời gian chỉnh lý quyết toán hoặc các nghiệp vụ mới phát sinh, các hoạt động đặc thù...);
- Sự tồn tại của giao dịch với các bên liên quan trong các khoản mục (ví dụ: các khoản kinh phí nộp cấp trên...);
- Các khoản mục có sự biến động lớn, bất thường so với giai đoạn trước (nhiệm vụ chi mới, phức tạp, tăng đột biến trong năm);
- Nhu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin tài chính, kỳ vọng và mối quan tâm của các nhà quản lý và công chúng về một vấn đề nhất định (ví dụ: Những vấn đề nổi cộm được Quốc hội và các cơ quan quản lý nhà nước quan tâm);
- Yêu cầu giám sát theo quy định của pháp luật trong một lĩnh vực cụ thể;
- Yêu cầu về việc công khai và minh bạch (ví dụ: yêu cầu công khai cụ thể về gian lận hoặc các thiệt hại khác).
đ) Sau khi xác định ban đầu các khoản mục trọng yếu, KTVNN cần xem xét liệu các khoản mục không được xác định là trọng yếu, nếu xét tổng hợp có thể trở thành trọng yếu hay không.
Việc xác định các khoản mục trọng yếu trên báo cáo quyết toán kinh phí hoạt động của Bộ A xem chi tiết Bảng 6.
Bảng 6: Xác định các khoản mục trọng yếu
| TT | Khoản mục | Giá trị (triệu đồng) | Khoản mục trọng yếu (Có/ Không) | Lý do |
| Kinh phí đã sử dụng đề nghị quyết toán | ||||
| I | NSNN | |||
| 1 | Sự nghiệp Khoa học và công nghệ | 300.000 | Có | Quy mô lớn hơn mức trọng yếu; và khoản mục có sai sót do tính phức tạp; chưa có bằng chứng xác định khoản mục không có sai sót |
| 2 | Các hoạt động kinh tế | 25.000 | Có | |
| 3 | Hành chính, đảng, đoàn thể | 20.000 | Không | Quy mô lớn hơn mức trọng yếu nhưng không có biến động đã thử nghiệm đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu và có định mức tương đối rõ ràng |
| 4 | Chi đầu tư phát triển | 800.000 | Có | Quy mô lớn hơn mức trọng yếu; và khoản mục có sai sót do tính phức tạp; chưa có bằng chứng xác định khoản mục không có sai sót |
| 5 | Viện trợ Lào; Campuchia CK | 2.000 | Không | Quy mô nhỏ hơn mức trọng yếu |
| 6 | Sự nghiệp y tế | 6.000 | Có | Quy mô nhỏ hơn mức trọng yếu nhưng là khoản mục hay có sai sót |
| 7 | Sự nghiệp bảo vệ môi trường | 5.600 | ||
| 8 | Chi sự nghiệp giáo dục - đào tạo | 20.000 | Có | Quy mô lớn hơn mức trọng yếu; và khoản mục có sai sót do tính phức tạp; chưa có bằng chứng xác định khoản mục không có sai sót |
| 9 | Chi mua sắm tài sản | 5.000 | Có | Quy mô nhỏ hơn mức trọng yếu nhưng là khoản mục hay có sai sót |
| 10 | Chi thanh toán cá nhân | 100.000 | Không | Quy mô lớn hơn mức trọng yếu, nhưng có bằng chứng chắc chắn: không có biến động, hệ thống kiểm soát hiệu quả qua thử nghiệm |
| 11 | …. |
4. Xác định mức trọng yếu thực hiện
a) Xác định mức trọng yếu thực hiện dựa trên mức trọng yếu tổng thể BCNSBN và tỷ lệ % tương ứng trong chính sách xác định trọng yếu kiểm toán của KTNN theo quy định tại Khoản 3 Điều 6 của hướng dẫn này (khoảng từ 50-75% so với mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSBN).
b) Việc xác định mức trọng yếu thực hiện không chỉ đơn thuần là một phép tính cơ học mà yêu cầu phải có những xét đoán chuyên môn. Việc xét đoán này phụ thuộc vào hiểu biết của KTVNN về đơn vị được kiểm toán, kết quả đánh giá rủi ro, qui mô, bản chất của các sai sót đã phát hiện trong các cuộc kiểm toán, kiểm tra, thanh tra trước và khả năng lặp lại sai sót đó trong kỳ kiểm toán, mức độ sai sót dự kiến trong kỳ kiểm toán.
c) Việc chọn tỷ lệ áp dụng cho từng cuộc kiểm toán cụ thể tùy thuộc vào xét đoán chuyên môn của KTVNN và phải được giải thích lý do trong kế hoạch kiểm toán. Thông qua quá trình tìm hiểu thông tin về đơn vị và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu, nếu KTVNN xác định rủi ro có sai sót trọng yếu của BCNSBN càng cao thì mức trọng yếu thực hiện càng nhỏ (tương ứng tỷ lệ xác định mức trọng yếu thực hiện trên mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSBN càng nhỏ) để phần chênh lệch giữa mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSBN và mức trọng yếu thực hiện có thể bao quát được các sai sót không phát hiện được và các sai sót không điều chỉnh.
d) Mức trọng yếu thực hiện sẽ quyết định nội dung, phạm vi kiểm toán cần phải thực hiện như: phải kiểm tra phần tử nào; số lượng mẫu chọn để kiểm toán... (theo lý thuyết chọn mẫu: Khoảng cách mẫu = Mức trọng yếu thực hiện/R và số phần tử chọn mẫu kiểm toán trong từng khoảng mục = Giá trị của khoản mục phải chọn mẫu/ Khoảng cách mẫu - Chi tiết tại Điểm c Khoản 2 Điều 12).
đ) Đối với các khoản mục cần lưu ý: Mức trọng yếu thực hiện cũng cần được xác định tương ứng nhằm giảm thiểu khả năng sai sót không được điều chỉnh hoặc không được phát hiện trong khoản mục đó tới mức thấp có thể xác định được. Mức trọng yếu thực hiện đối với khoản cần lưu ý thường được xác định ở mức thấp trong khung tỷ lệ xác định mức trọng yếu thực hiện tại Chính sách xác định trọng yếu kiểm toán của KTNN (theo Phụ lục 04/HD-RRTY- NSBN).
Ví dụ (tiếp theo ví dụ trên): Giả thiết qua khảo sát đối với Bộ A đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu là cao nên tỷ lệ xác định mức trọng yếu thực hiện được xác định là mức thấp nhất trong khung tỷ lệ 50% - 75%, giả sử KTVNN chọn tỷ lệ xác định mức trọng yếu thực hiện là 50% mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSBN. Như vậy, mức trọng yếu thực hiện đối với báo cáo tài chính = 50% x 7.000 triệu đồng = 3.500 triệu đồng; đối với báo cáo quyết toán kinh phí hoạt động = 50% x 9.100 triệu đồng = 4.550 triệu đồng; đối với các khoản mục cần lưu ý “Chi phí thuế TNDN” = 50% x 42 triệu đồng = 21 triệu đồng (chi tiết xem Bảng 3 và Bảng 4).
5. Xác định ngưỡng sai sót không đáng kể
a) Xác định ngưỡng sai sót không đáng kể dựa trên mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSBN và tỷ lệ % tương ứng trong Chính sách xác định trọng yếu kiểm toán của KTNN theo quy định tại Khoản 4 Điều 6 của Hướng dẫn này (dưới 3% so với mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSBN, nhưng không vượt quá 500 triệu đồng).
| Ngưỡng sai sót không đáng kể | = | Tỷ lệ phần trăm (%) xác định ngưỡng sai sót không đáng kể | x | Mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSBN |
Ví dụ (tiếp theo ví dụ trên): Giả sử theo xét đoán chuyên môn, KTVNN xác định ngưỡng sai sót không đáng kể khi kiểm toán tại Bộ A là 1%, với mức trọng yếu đối với tổng thể BCNSBN (báo cáo quyết toán kinh phí hoạt động) đã xác định là 9.100 triệu đồng. Như vậy, ngưỡng sai sót không đáng kể được xác định bằng = 1% x 9.100 triệu đồng = 91 triệu đồng (chi tiết xem Bảng 3.1).
b) Đối với những khoản mục cần lưu ý, ngưỡng sai sót không đáng kể cũng dựa trên mức trọng yếu đã được xác định đối với khoản mục cần lưu ý nói trên.
Ví dụ (tiếp theo ví dụ trên): Đối với khoản mục cần lưu ý “Chi phí thuế TNDN” được xác định bằng = 1% x 42 triệu đồng = 0,42 triệu đồng (Chi tiết xem Bảng 4).