Điều 13. Quy trình kiểm tra văn bản theo thẩm quyền
1. Khi nhận văn bản do cơ quan ban hành gửi đến để kiểm tra, Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp theo dõi vào “Sổ văn bản đến”, giao cho người kiểm tra văn bản thực hiện kiểm tra.
2. Người kiểm tra văn bản có trách nhiệm xem xét, đánh giá và kết luận về tính hợp hiến, hợp pháp, xác định nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra theo quy định tại Điều 3, Điều 6 Nghị định số 40/2010/NĐ-CP và Điều 3, Điều 4 Thông tư số 20/2010/TT-BTP; ký tên và ghi rõ ngày, tháng năm kiểm tra vào góc trên của văn bản mà mình đã kiểm tra để xác nhận việc kiểm tra, thời điểm kiểm tra và lập báo cáo kèm theo danh mục những văn bản đã được phân công kiểm tra.
3. Trường hợp văn bản qua kiểm tra không phát hiện có dấu hiệu trái pháp luật thì chuyển về bộ phận lưu trữ kết quả kiểm tra.
4. Trường hợp kiểm tra phát hiện văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, người kiểm tra lập “Hồ sơ về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật”, trình Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng phòng Tư pháp, hồ sơ gồm có: Văn bản được kiểm tra; Phiếu kiểm tra văn bản theo mẫu số 01/BTP/KTrVB ban hành kèm theo Thông tư số 20/2010/TT-BTP; Văn bản làm cơ sở pháp lý để xác định nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra; Các văn bản, tài liệu khác có liên quan (nếu có).
5. Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng phòng Tư pháp thông báo bằng văn bản để cơ quan đã ban hành văn bản đó tự kiểm tra, xử lý, thông báo kết quả tự kiểm tra, xử lý cho cơ quan kiểm tra văn bản theo quy định của pháp luật.
Nội dung thông báo thực hiện theo quy định tại Khoản 7 Điều 9 Thông tư số 20/2010/TT-BTP. Trường hợp khi kiểm tra phát hiện nội dung của văn bản được kiểm tra, mâu thuẫn, chồng chéo, không còn phù hợp với văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên đã ban hành hoặc không phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội thì trong văn bản thông báo cũng kiến nghị cơ quan đã ban hành văn bản đó nghiên cứu, rà soát xử lý các nội dung không còn phù hợp đó theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp cơ quan đã ban hành văn bản có dấu hiệu trái pháp luật không xử lý theo thời hạn quy định hoặc lãnh đạo cơ quan kiểm tra văn bản không nhất trí với kết quả xử lý thì Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch UBND cùng cấp xử lý theo quy định của pháp luật.
Thời hạn xử lý văn bản có dấu hiệu trái pháp luật thực hiện theo Điều 23 Nghị định số 40/2010/NĐ-CP.
Các hình thức xử lý văn bản trái pháp luật thực hiện theo Điều 27, 28, 29, 30 Nghị định số 40/2010/NĐ-CP.
Thẩm quyền xử lý văn bản trái pháp luật thực hiện theo Điều 18 Nghị định số 40/2010/NĐ-CP.
7. Kết quả xử lý văn bản trái pháp luật phải được công bố theo quy định tại Điều 3 Quy chế này.