Điều 16. Chế độ, chính sách đối DQTV khi bị thương
Chế độ chính sách đối với DQTV bị thương theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Luật DQTV được quy định cụ thể như sau:
1. Điều kiện DQTV được xét công nhận là người hưởng chính sách như thương binh, thực hiện quyết định điều động của cấp có thẩm quyền bị thương do một trong các trường hợp sau:
a) SSCĐ, chiến đấu và phục vụ chiến đấu bảo vệ địa phương, cơ sở; phối hợp với các đơn vị bộ đội biên phòng, hải quân, cảnh sát biển và lực lượng khác bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia và chủ quyền, quyền chủ quyền trên các vùng biển Việt Nam.
b) Phối hợp với các đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và lực lượng khác trên địa bàn tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân, khu vực phòng thủ; giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước.
c) Thực hiện nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm cứu nạn, bảo vệ và phòng, chống cháy rừng, bảo vệ môi trường và nhiệm vụ phòng thủ dân sự khác.
2. Thẩm quyền cấp giấy chứng nhận bị thương:
- Chủ tịch UBND cấp huyện ký giấy chứng nhận bị thương đối với DQTV thuộc phạm vi quản lý của cấp huyện.
- Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh ký giấy chứng nhận bị thương đối với DQTV thuộc phạm vi quản lý của tỉnh.
3. Chế độ, hồ sơ và trách nhiệm lập hồ sơ:
Thực hiện theo quy định của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng; Nghị định số 54/2006/NĐ-CP ngày 26 tháng 5 năm 2006 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng; Mục II, Mục V Thông tư số 07/2006/TT-BLĐTBXH ngày 26 tháng 7 năm 2006 của Bộ Lao động – Thương Binh và Xã hội hướng dẫn về hồ sơ, lập hồ sơ thực hiện chế độ ưu đãi người có công với cách mạng và các văn bản hướng dẫn của Bộ Quốc phòng.