Điều 5. Hỗ trợ đối với đất nông nghiệp trong khu dân cư và đất vườn, ao không được công nhận là đất ở (quy định cụ thể Điều 21 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP)
1. Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở trong khu dân cư nhưng không được công nhận là đất ở; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở riêng lẻ; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở dọc kênh mương và dọc tuyến đường giao thông đủ điều kiện được bồi thường về đất theo quy định của pháp luật đất đai thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp trồng cây lâu năm còn được hỗ trợ bằng 60% giá đất ở của thửa đất đó; diện tích được hỗ trợ như sau:
a) Đối với các phường, thị trấn diện tích được hỗ trợ bằng tiền tối đa là một nghìn năm trăm mét vuông (1.500m2).
b) Đối với các xã diện tích được hỗ trợ bằng tiền tối đa là hai nghìn mét vuông (2.000m2).
2. Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất nông nghiệp trong địa giới hành chính phường, trong khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn; thửa đất nông nghiệp tiếp giáp với ranh giới phường, ranh giới khu dân cư thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp còn được hỗ trợ như sau: Đối với các thửa đất tiếp giáp mặt đường có mức giá thấp hơn hoặc bằng trung bình cộng của các mức giá trong phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thì được hỗ trợ bằng 40% giá đất ở trung bình cộng của các mức giá nhưng không vượt quá 60% giá đất ở tại vị trí thửa đất đó; Đối với các thửa đất tiếp giáp mặt đường có mức giá cao hơn trung bình cộng các mức giá trong phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thì được hỗ trợ bằng 40% giá đất ở của đường tại vị trí thửa đất đó. Diện tích được hỗ trợ cho mỗi hộ gia đình, cá nhân trong 01 dự án không quá diện tích theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều này.
Thửa đất nông nghiệp tiếp giáp với ranh giới phường, ranh giới khu dân cư là thửa đất ít nhất có một cạnh tiếp giáp với ranh giới phường, ranh giới khu dân cư (kể cả tiếp giáp qua đường giao thông, kênh, mương thủy lợi)