Điều 5. Điều kiện được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội
Các đối tượng tại Điều 4 của Quy định này phải đáp ứng được các điều kiện về nhà ở, cư trú và thu nhập theo quy định sau đây:
1. Điều kiện về nhà ở:
a) Chưa có nhà ở thuộc sở hữu của mình, chưa được mua, thuê hoặc thuê mua nhà ở xã hội; chưa được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở, đất ở dưới mọi hình thức tại nơi sinh sống, học tập (bao gồm cả vợ và chồng nếu đã đăng ký kết hôn).
b) Có nhà ở thuộc sở hữu của mình nhưng nhà ở chật chội (diện tích bình quân dưới 10m2 sàn/người) hoặc nhà ở bị hư hỏng, dột nát (hư hỏng khung - tường, mái); có nhà ở nhưng thuộc diện bị giải tỏa khi nhà nước thu hồi đất; có nhà ở gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi phải di chuyển chỗ ở mà chưa được bồi thường về nhà ở, đất ở tái định cư.
c) Đã có đất ở nhưng diện tích khuôn viên đất ở thấp hơn tiêu chuẩn diện tích tối thiểu thuộc diện được phép cải tạo, xây dựng theo quy định hiện hành về cấp phép xây dựng và quản lý xây dựng theo giấy phép xây dựng trên địa bàn tỉnh.
d) Đã trả lại nhà công vụ và hiện nay chưa có nhà ở tại nơi sinh sống sau khi trả lại nhà công vụ.
2. Điều kiện về cư trú:
a) Phải có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tỉnh An Giang; trường hợp không có hộ khẩu thường trú thì phải có đăng ký tạm trú và giấy xác nhận đóng bảo hiểm xã hội từ 01 năm trở lên tại tỉnh An Giang (trừ trường hợp quy định tại khoản 9 Điều 49 của Luật nhà ở).
b) Kể từ ngày Luật Cư trú có hiệu lực (ngày 01 tháng 7 năm 2021) thì việc xác nhận đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú thực hiện theo quy định của Luật Cư trú; trường hợp đã được cấp Sổ hộ khẩu, Sổ tạm trú thì vẫn được sử dụng và có giá trị như giấy tờ, tài liệu xác nhận về cư trú theo quy định của Luật này cho đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2022.
3. Điều kiện về thu nhập:
a) Đối với các đối tượng quy định tại khoản 5, 6 và 7 Điều 49 của Luật Nhà ở: phải có giấy xác nhận của cơ quan, đơn vị mà người đó đang làm việc về mức thu nhập thuộc diện không phải nộp thuế thu nhập thường xuyên theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân.
b) Đối với đối tượng quy định tại khoản 4 Điều 49 của Luật Nhà ở: phải tự kê khai về mức thu nhập của bản thân và chịu trách nhiệm về thông tin tự kê khai. Trường hợp là hộ nghèo, cận nghèo thì phải thuộc diện nghèo, cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
c) Đối với các đối tượng quy định tại khoản 1, 8, 9 và 10 Điều 49 của Luật Nhà ở thì không yêu cầu phải đáp ứng điều kiện về thu nhập theo quy định tại Khoản này.