vanban.org

Điều 6. Gửi, niêm yết, công khai quyết định cưỡng chế — Quyết định 04/2021/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 10/01/2025 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 10/01/2025 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 69/2024/QĐ-UBND · 30/12/2024
Hòa Bình Ban hành 15/01/2021 Hiệu lực 01/02/2021 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 5 năm
Quyết định số 04/2021/QĐ-UBND Ban hành Quy định về cưỡng chế thi hành quyết định giải quyết tranh chấp đất đai · 04/2021/QĐ-UBND
10/01/202569/2024/QĐ-UBNDBãi bỏ Đang xem 01/02/2021Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 04/2021/QĐ-UBND › Chương II › Điều 6
Đọc toàn văn

Điều 6. Gửi, niêm yết, công khai quyết định cưỡng chế

1. Sau khi ban hành quyết định cưỡng chế, quyết định thành lập Ban thực hiện cưỡng chế phải gửi cho Ban thực hiện cưỡng chế, cơ quan tham mưu thực hiện cưỡng chế, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để phối hợp thực hiện.

2. Quyết định cưỡng chế được giao trực tiếp cho đối tượng bị cưỡng chế hoặc gửi qua bưu điện bằng hình thức thưbảo đảm trong trường hợp đối tượng bị cưỡng chế cư trú ngoài đơn vị cấp huyện, cấp tỉnh và thông báo cho đối tượng bị cưỡng chế biết.

3. Trường hợp quyết định cưỡng chế được triển khai giao trực tiếp mà đối tượng bị cưỡng chế không nhận, cố ý vắng mặt (tại nơi cư trú hoặc không đến làm việc theo thư mời) thì Ban Thực hiện cưỡng chế phải lập biên bản về việc không nhận quyết định, vắng mặt nêu trên,biên bản phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cưỡng chế thì được coi là đã giao quyết định cưỡng chế.

4. Trường hợp đối tượng bị cưỡng chế vắng mặt tại nơi cư trú mà không xác định được địa chỉ của đối tượng bị cưỡng chế thì quyết định cưỡng chế được giao cho một trong những thành viên trong gia đình của đối tượng bị cưỡng chế, bao gồm: cha, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột của đối tượng bị cưỡng chế;các đối tượng quy định tại khoản này phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật và đang cư trú trên địa bàn tỉnh Hòa Bình.

Việc giao phải lập biên bản, phải có ký tên hoặc điểm chỉ của người nhận có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã. Trường hợp người nhận không ký hoặc điểm chỉ thì ghi rõ lý do không ký nhận hoặc điểm chỉ vào biên bản có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận quy định tại Khoản này và được coi như quyết định cưỡng chế đã giao.

5. Đối với trường hợp gửi qua bưu điện bằng hình thức thư bảo đảm, nếu sau thời hạn năm (05) ngày làm việc, kể từ ngày quyết định cưỡng chế đã được gửi qua đường bưu điện đến lần thứ ba (03) mà bị trả lại do đối tượng bị cưỡng chế cố ý không nhận, hoặc có căn cứ cho rằng người bị cưỡng chế cố ý không nhận quyết định cưỡng chế thì được coi là đã được giao quyết định.

a)Đối với trường hợp không thể xác định được địa chỉ cụ thể của đối tượng bị cưỡng chế và các đối tượng được quy định tại Khoản 4 Điều này, ngoài việc niêm yết quyết định cưỡng chế tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, nhà văn hóa thôn, xóm, làng, bản, tổ dân phố nơi có đất tranh chấp, Ban thực hiện cưỡng chế phải thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng tại địa phương về việc cưỡng chế ít nhất ba (03) lần trong mười lăm (15) ngày làm việc và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị cưỡng chế cư trú lập biên bản việc vắng mặt khi giao quyết định cưỡng chế trước khi tổ chức thực hiện cưỡng chế.

b) Đối với trường hợp người bị cưỡng chế đang bị tạm giam, tạm giữ, chấp hành án phạt tù thì việc cưỡng chế chỉ được thực hiện sau khi cơ quan chủ trì thực hiện cưỡng chế đã thông qua cơ quan đang thực hiện việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án phạt tù gửi quyết định cưỡng chế cho người bị cưỡng chế.

6. Niêm yết công khai quyết định cưỡng chế tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, nhà văn hóa thôn, xóm, làng, bản, tổ dân phố nơi có đất tranh chấp và nơi cư trú của người bị cưỡng chế; thời hạn niêm yết ít nhất là năm (05) ngày làm việc trước khi thực hiện cưỡng chế. Việc niêm yết và kết thúc niêm yết phải được lập thành biên bản có xác nhận của trưởng thôn, xóm, bản, tổ trưởng tổ dân phố, chính quyền địa phương nơi có đất tranh chấp.