vanban.org

Điều 10. Quản lý công tác quy hoạch, đầu tư, khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch 1. Các khu du lịch, điểm du lịch được xây dựng, phát triển và quản lý theo đúng quy định hiện hành của nhà nước về quản lý đầu tư xây dựng, quản lý quy hoạch đô thị. Trong quá trình xây dựng và kinh doanh phải thực hiện nghiêm túc các giải pháp nhằm không gây ảnh hưởng tác hại về môi trường, di tích lịch sử văn hóa, cảnh quan, đời sống văn hóa xã hội trong khu vực và cộng đồng dân cư địa phương. Quản lý và thực hiện đầy đủ các quy định theo pháp luật trong hành lang bảo vệ bờ biển do Ủy ban nhân dân tỉnh thiết lập và công bố. 2. Việc quản lý và sử dụng đất vào mục đích đầu tư xây dựng các công trình kinh doanh du lịch, dịch vụ du lịch phải tuân theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cấp có thẩm quyền phê duyệt và theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Tổ chức, cá nhân khi sử dụng đất trong các khu du lịch, điểm du lịch làm dịch vụ du lịch phải sử dụng đất đúng mục đích, đúng diện tích được giao; tuân thủ các quy định về môi trường, tài nguyên đất; không tranh chấp đất. 3. Nhà nước đầu tư một số công trình hạ tầng cơ bản. Đồng thời khuyến khích tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia đầu tư cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch cũng như các hoạt động kinh doanh du lịch, dịch vụ tại các khu du lịch, điểm du lịch, bãi tắm du lịch trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Điều 11. Quản lý các hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch 1. Tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch bao gồm dịch vụ lữ hành, lưu trú du lịch, vận tải khách du lịch, ăn uống, mua sắm, thể thao, vui chơi, giải trí, chăm sóc sức khỏe và các dịch vụ liên quan khác phục vụ khách du lịch khi hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch trong khu du lịch, điểm du lịch, bãi tắm du lịch phải có giấy phép kinh doanh và kinh doanh đúng ngành, nghề đã đăng ký được cấp phép kinh doanh 2. Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch trong các khu du lịch, điểm du lịch, bãi tắm du lịch phải thực hiện các nội dung sau đây: a) Tuân theo các quy định của pháp luật hiện hành và quy định này. b) Chấp hành sự kiểm tra, giám sát về chất lượng sản phẩm, dịch vụ phục vụ khách du lịch trong khu du lịch, điểm du lịch. c) Thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về điều kiện, nghĩa vụ đối với từng loại hình kinh doanh dịch vụ du lịch, thực hiện chế độ báo cáo thống kê đến cơ quan quản lý chuyên ngành và địa phương theo quy định; phải bán hàng đúng nơi quy định, thực hiện bán hàng đúng giá niêm yết, giá niêm yết công khai tại nơi khách hàng dể dàng nhận biết, các cơ quan dể kiểm tra, kiểm soát. Đồng thời phải thực hiện xuất hóa đơn cho khách hàng khi hoàn thành việc cung ứng dịch vụ. Thực hiện đón tiếp, phục vụ khách bằng thái độ thân thiện lịch sự, hòa nhã, không được tranh giành, đeo bám khách, gây mất trật tự an ninh trong khu du lịch. 3. Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ vận tải khách du lịch, dịch vụ vui chơi giải trí, thể thao phải thực hiện niêm yết quy định rõ những trường hợp không được phép tham gia, tổ chức quản lý, bảo vệ tài sản, tính mạng và mua bảo hiểm cho khách du lịch khi tham gia các hoạt động dịch vụ. 4. Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ lữ hành phải đảm bảo các điều kiện về hoạt động kinh doanh dịch vụ lữ hành và hướng dẫn du lịch theo quy định; phải đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản cho khách khi tổ chức chương trình tham quan các tuyến du lịch trên địa bàn tỉnh; cung cấp thông tin cho khách về quy định bảo vệ tài nguyên du lịch, vệ sinh môi trường; không được để khách lợi dụng hoạt động du lịch để xâm hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và thuần phong mỹ tục của các dân tộc; phản ánh kịp thời với chính quyền địa phương về các hành vi gây tổn hại đến an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, cảnh quan du lịch trên địa bàn. Điều 12. Quản lý, khai thác bãi tắm du lịch 1. Quy định thời gian hoạt động của bãi tắm phù hợp với đặc điểm tự nhiên của từng khu vực “Thời gian hoạt động thông thường của bãi tắm từ 6 giờ 00 đến 18 giờ 00 hàng ngày”. Nếu hoạt động ngoài khung thời gian quy định thì phải trang bị đầy đủ các phương tiện đảm bảo an toàn cho du khách, trang thiết bị cứu hộ, cứu nạn phù hợp với ban đêm, hệ thống phao tiêu phát sáng và được chấp thuận của đơn vị quản lý bãi tắm, nhưng không trước 4 giờ 30 phút và không quá 21 giờ 00 phút. 2. Khảo sát và xây dựng biểu đồ hiện trạng bãi tắm chiều dài, chiều rộng, độ sâu mực nước, độ nước xoáy, độ sóng, thủy triều theo mùa. 3. Thành lập lực lượng cứu hộ, cứu nạn, cứu đuối, y tế, quản lý an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, phòng chống cháy nổ, vệ sinh an toàn thực phẩm trong phục vụ khai thác bãi tắm có chuyên môn nghiệp vụ theo chức năng nhiệm vụ của từng vị trí công việc. 4. Xây dựng phương án quản lý khai thác bãi tắm. 5. Ban hành Nội quy bãi tắm. 6. Báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc bản cam kết bảo vệ môi trường hoặc đề án bảo vệ môi trường. 7. Tổ chức, cá nhân đã được giao đất, cho thuê đất để hoạt động kinh doanh du lịch (có tiếp giáp với bãi biển) chỉ được phép tổ chức hoạt động kinh doanh trong ranh giới đất được giao, được cho thuê. Trường hợp có tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí, thể thao biển phải thông báo cho cơ quan có thẩm quyền và thực hiện các quy định tại Quyết định số 51/2013/QĐ-UBND ngày 19/11/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quy định quản lý các vùng hoạt động thể thao giải trí trên biển tại địa bàn tỉnh Bình Thuận. 8. Lập hồ sơ cấp phép xả thải vào nguồn nước theo quy định. 9. Định kỳ 6 tháng các tổ chức, cá nhân quản lý khai thác bãi tắm thực hiện quan trắc môi trường nước để giám sát các thông số tác nhân sinh học có thể lây nhiễm bệnh dịch qua nước, không khí, cát biển. 10. Phân công lực lượng thu gom rác ven biển (trên biển, trên bờ) hàng ngày. Điều 13. Bảo đảm an toàn cho khách du lịch 1. Ban quản lý khu du lịch, điểm du lịch, bãi tắm du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh trong khu, điểm du lịch, bãi tắm du lịch cùng với Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình tổ chức bộ phận bảo vệ, cứu hộ, cứu nạn, cấp cứu đặc biệt tại khu vực tắm biển, ghềnh, thác. Các bộ phận trên có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết để phòng ngừa rủi ro, bảo đảm an toàn tính mạng của khách du lịch (cắm cờ báo khu vực nguy hiểm), trang bị đầy đủ các trang thiết bị phục vụ công tác cứu hộ, cứu nạn, bảo đảm an toàn cho khách du lịch khi tham quan và tham gia các dịch vụ. Trong trường hợp khẩn cấp phải kịp thời có biện pháp cứu hộ, cứu nạn để hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại đến tính mạng, tài sản đối với khách du lịch. 2. Các tổ chức, cá nhân có biện pháp đảm bảo an toàn khi kinh doanh các sản phẩm du lịch có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của khách du lịch theo quy định tại Điều 9 Nghị định 168/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Du lịch. 3. Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ ăn uống phải tuân thủ đúng quy định về điều kiện chung bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Điều 14. Bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường trong khu du lịch, điểm du lịch, bãi tắm du lịch 1. Khách đến tham quan, du lịch tại khu du lịch, điểm du lịch, bãi tắm du lịch có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các quy định được niêm yết hoặc được phổ biến và có quyền khiếu nại đến các cấp có thẩm quyền về những vi phạm đối với quyền và lợi ích hợp pháp của mình. 2. Ban quản lý khu du lịch, điểm du lịch, bãi tắm du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh trong khu, điểm du lịch, bãi tắm du lịch phải chấp hành đầy đủ các quy định về công tác đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội trong khu du lịch và có trách nhiệm như sau: a) Phối hợp với Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn trên địa bàn xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của khách cũng như đối với các quy định trong nội quy, quy chế của khu du lịch, điểm du lịch, những hành vi lợi dụng hoạt động du lịch truyền bá văn hóa trái với thuần phong mỹ tục, lợi ích của người Việt Nam và các hoạt động thu thập thông tin thuộc bí mật Nhà nước gây phương hại đến an ninh quốc gia ảnh hưởng đến truyền thống văn hóa và thuần phong mỹ tục của cộng đồng dân cư địa phương. b) Tham gia phát hiện và đấu tranh ngăn chặn các tệ nạn xã hội; không được mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy, các chất gây nghiện; không tổ chức, chứa chấp, môi giới mua bán dâm; không kinh doanh, phổ biến văn hóa phẩm thuộc loại cấm lưu hành; không tuyên truyền hoạt động mê tín dị đoan, truyền đạo trái phép làm ảnh hưởng xấu đến môi trường du lịch. c) Không tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí, công cụ hỗ trợ, vật liệu nổ, các chất dễ cháy, chất độc, chất phóng xạ; không chứa chấp tội phạm đang trốn tránh pháp luật và các hoạt động trái pháp luật khác. d) Có kế hoạch, phương án và các phương tiện về phòng cháy, chữa cháy theo quy định. e) Thực hiện các quy định về an toàn giao thông, các phương tiện vận tải khách du lịch trong các khu du lịch, điểm du lịch phải được đăng ký và quản lý theo quy định. Không được xây dựng các công trình vi phạm hành lang an toàn giao thông. g) Các phương tiện của khách đến các khu du lịch đều phải để đúng nơi quy định. Ban quản lý khu, điểm du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh trong khu du lịch, điểm du lịch có trách nhiệm đảm bảo an toàn phương tiện, tài sản cho khách du lịch. 4. Ban quản lý khu, điểm du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, dịch vụ thực hiện đánh giá tác động môi trường, đăng ký cam kết bảo vệ môi trường hoặc đề án bảo vệ môi trường, trong đó giải trình các yếu tố có thể gây ảnh hưởng đến môi trường và các biện pháp giảm thiểu. Bảo đảm thực hiện đúng các tiêu chuẩn môi trường trong quá trình kinh doanh dịch vụ trong khu du lịch, điểm du lịch. Lập hồ sơ cấp phép xả thải vào nguồn nước theo quy định. 5. Ban quản lý khu, điểm du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, dịch vụ có trách nhiệm niêm yết nội quy bảo vệ môi trường tại khu du lịch, các cơ sở kinh doanh du lịch và dịch vụ du lịch. Tổ chức phương tiện, hệ thống thu gom, xử lý rác thải, nước thải đúng quy định; khắc phục tác động tiêu cực do hoạt động của mình và của du khách gây ra, đảm bảo vệ sinh môi trường trong phạm vi quản lý của mình. Đối với các khu du lịch, điểm du lịch có bãi tắm du lịch phải đảm bảo các điều kiện bảo vệ môi trường được quy định tại Điều 8 trong Quy định này. 6. Nhân dân được tham gia và hưởng lợi từ hoạt động du lịch, có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên du lịch, bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ bản sắc văn hóa địa phương và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ khác. Điều 15. Bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa tại các khu, điểm du lịch 1. Ban quản lý khu du lịch, điểm du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh trong khu, điểm du lịch phải có trách nhiệm bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, công trình công cộng; giữ gìn phong tục, tập quán truyền thống tốt đẹp, nghệ thuật, lễ hội dân gian các dân tộc và phát huy nghề thủ công truyền thống; thực hiện nếp sống văn hóa góp phần xây dựng môi trường văn hóa du lịch văn minh. 2. Các hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa và các hoạt động văn hóa tại các khu du lịch phải tuân thủ quy định về quản lý đối với di sản văn hóa và dịch vụ văn hóa. Việc tổ chức khai thác các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh phục vụ kinh doanh du lịch phải được phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. 3. Hoạt động trong các khu du lịch, điểm du lịch, bãi tắm du lịch trên địa bàn tỉnh không được làm ảnh hưởng đến các giá trị văn hóa truyền thống, đạo đức và thuần phong mỹ tục của các dân tộc trên địa bàn tỉnh. 4. Tham gia các hoạt động bảo tồn, sử dụng và phát huy giá trị các loại hình nghệ thuật truyền thống của các dân tộc, xây dựng các đội văn nghệ dân tộc phục vụ khách tham quan du lịch. Điều 16. Công tác thông tin, hỗ trợ du khách 1. Xây dựng hệ thống biển báo, biển chỉ dẫn, điểm cung cấp thông tin phục vụ khách du lịch nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho du khách tiếp cận các khu du lịch dễ dàng. Các biển báo phải tuân thủ theo tiêu chuẩn quy định của bộ, ngành chức năng liên quan. 2. Ban quản lý khu, điểm du lịch, bãi tắm du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh trong khu, điểm du lịch, bãi tắm du lịch có trách nhiệm: - Đầu tư xây dựng hệ thống biển báo, biển chỉ dẫn, điểm cung cấp thông tin phục vụ khách du lịch trong các địa điểm đã được cơ quan thẩm quyền giao quản lý, khai thác. - Hỗ trợ thông tin, giải quyết các yêu cầu, kiến nghị cần thiết và chính đáng của khách du lịch trong các trường hợp cần trợ giúp, tạo điều kiện thuận lợi để khách du lịch dễ dàng tiếp cận thông tin, được tư vấn, chọn lọc các cơ sở lưu trú du lịch, sản phẩm du lịch, dịch vụ du lịch, giải trí. 3. Ban quản lý khu, điểm du lịch, bãi tắm du lịch có trách nhiệm ghi nhận phản ánh của khách du lịch về tình hình phục vụ khách, chất lượng dịch vụ, giá cả và thông tin kịp thời để các đơn vị liên quan có biện pháp xử lý, chấn chỉnh các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh du lịch chưa đúng quy định hoặc sai phạm. — Quyết định 04/2020/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 15/06/2023 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 15/06/2023 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 08/2023/QĐ-UBND · 05/06/2023
Bình Thuận Ban hành 22/01/2020 Hiệu lực 10/02/2020 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 6 năm
Quyết định số 04/2020/QĐ-UBND Ban hành quy định quản lý các khu du lịch, điểm du lịch, bãi tắm du lịch trên địa bàn tỉnh Bình Thuận · 04/2020/QĐ-UBND
15/06/202308/2023/QĐ-UBNDBãi bỏ Đang xem 10/02/2020Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 04/2020/QĐ-UBND › Chương IV › Điều 10
Đọc toàn văn

Điều 10. Quản lý công tác quy hoạch, đầu tư, khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch
1. Các khu du lịch, điểm du lịch được xây dựng, phát triển và quản lý theo đúng quy định hiện hành của nhà nước về quản lý đầu tư xây dựng, quản lý quy hoạch đô thị. Trong quá trình xây dựng và kinh doanh phải thực hiện nghiêm túc các giải pháp nhằm không gây ảnh hưởng tác hại về môi trường, di tích lịch sử văn hóa, cảnh quan, đời sống văn hóa xã hội trong khu vực và cộng đồng dân cư địa phương. Quản lý và thực hiện đầy đủ các quy định theo pháp luật trong hành lang bảo vệ bờ biển do Ủy ban nhân dân tỉnh thiết lập và công bố.
2. Việc quản lý và sử dụng đất vào mục đích đầu tư xây dựng các công trình kinh doanh du lịch, dịch vụ du lịch phải tuân theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cấp có thẩm quyền phê duyệt và theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Tổ chức, cá nhân khi sử dụng đất trong các khu du lịch, điểm du lịch làm dịch vụ du lịch phải sử dụng đất đúng mục đích, đúng diện tích được giao; tuân thủ các quy định về môi trường, tài nguyên đất; không tranh chấp đất.
3. Nhà nước đầu tư một số công trình hạ tầng cơ bản. Đồng thời khuyến khích tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia đầu tư cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch cũng như các hoạt động kinh doanh du lịch, dịch vụ tại các khu du lịch, điểm du lịch, bãi tắm du lịch trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Điều 11. Quản lý các hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch
1. Tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch bao gồm dịch vụ lữ hành, lưu trú du lịch, vận tải khách du lịch, ăn uống, mua sắm, thể thao, vui chơi, giải trí, chăm sóc sức khỏe và các dịch vụ liên quan khác phục vụ khách du lịch khi hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch trong khu du lịch, điểm du lịch, bãi tắm du lịch phải có giấy phép kinh doanh và kinh doanh đúng ngành, nghề đã đăng ký được cấp phép kinh doanh
2. Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch trong các khu du lịch, điểm du lịch, bãi tắm du lịch phải thực hiện các nội dung sau đây:
a) Tuân theo các quy định của pháp luật hiện hành và quy định này.
b) Chấp hành sự kiểm tra, giám sát về chất lượng sản phẩm, dịch vụ phục vụ khách du lịch trong khu du lịch, điểm du lịch.
c) Thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về điều kiện, nghĩa vụ đối với từng loại hình kinh doanh dịch vụ du lịch, thực hiện chế độ báo cáo thống kê đến cơ quan quản lý chuyên ngành và địa phương theo quy định; phải bán hàng đúng nơi quy định, thực hiện bán hàng đúng giá niêm yết, giá niêm yết công khai tại nơi khách hàng dể dàng nhận biết, các cơ quan dể kiểm tra, kiểm soát. Đồng thời phải thực hiện xuất hóa đơn cho khách hàng khi hoàn thành việc cung ứng dịch vụ. Thực hiện đón tiếp, phục vụ khách bằng thái độ thân thiện lịch sự, hòa nhã, không được tranh giành, đeo bám khách, gây mất trật tự an ninh trong khu du lịch.
3. Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ vận tải khách du lịch, dịch vụ vui chơi giải trí, thể thao phải thực hiện niêm yết quy định rõ những trường hợp không được phép tham gia, tổ chức quản lý, bảo vệ tài sản, tính mạng và mua bảo hiểm cho khách du lịch khi tham gia các hoạt động dịch vụ.
4. Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ lữ hành phải đảm bảo các điều kiện về hoạt động kinh doanh dịch vụ lữ hành và hướng dẫn du lịch theo quy định; phải đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản cho khách khi tổ chức chương trình tham quan các tuyến du lịch trên địa bàn tỉnh; cung cấp thông tin cho khách về quy định bảo vệ tài nguyên du lịch, vệ sinh môi trường; không được để khách lợi dụng hoạt động du lịch để xâm hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và thuần phong mỹ tục của các dân tộc; phản ánh kịp thời với chính quyền địa phương về các hành vi gây tổn hại đến an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, cảnh quan du lịch trên địa bàn.
Điều 12. Quản lý, khai thác bãi tắm du lịch
1. Quy định thời gian hoạt động của bãi tắm phù hợp với đặc điểm tự nhiên của từng khu vực “Thời gian hoạt động thông thường của bãi tắm từ 6 giờ 00 đến 18 giờ 00 hàng ngày”. Nếu hoạt động ngoài khung thời gian quy định thì phải trang bị đầy đủ các phương tiện đảm bảo an toàn cho du khách, trang thiết bị cứu hộ, cứu nạn phù hợp với ban đêm, hệ thống phao tiêu phát sáng và được chấp thuận của đơn vị quản lý bãi tắm, nhưng không trước 4 giờ 30 phút và không quá 21 giờ 00 phút.
2. Khảo sát và xây dựng biểu đồ hiện trạng bãi tắm chiều dài, chiều rộng, độ sâu mực nước, độ nước xoáy, độ sóng, thủy triều theo mùa.
3. Thành lập lực lượng cứu hộ, cứu nạn, cứu đuối, y tế, quản lý an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, phòng chống cháy nổ, vệ sinh an toàn thực phẩm trong phục vụ khai thác bãi tắm có chuyên môn nghiệp vụ theo chức năng nhiệm vụ của từng vị trí công việc.
4. Xây dựng phương án quản lý khai thác bãi tắm.
5. Ban hành Nội quy bãi tắm.
6. Báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc bản cam kết bảo vệ môi trường hoặc đề án bảo vệ môi trường.
7. Tổ chức, cá nhân đã được giao đất, cho thuê đất để hoạt động kinh doanh du lịch (có tiếp giáp với bãi biển) chỉ được phép tổ chức hoạt động kinh doanh trong ranh giới đất được giao, được cho thuê. Trường hợp có tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí, thể thao biển phải thông báo cho cơ quan có thẩm quyền và thực hiện các quy định tại Quyết định số 51/2013/QĐ-UBND ngày 19/11/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quy định quản lý các vùng hoạt động thể thao giải trí trên biển tại địa bàn tỉnh Bình Thuận.
8. Lập hồ sơ cấp phép xả thải vào nguồn nước theo quy định.
9. Định kỳ 6 tháng các tổ chức, cá nhân quản lý khai thác bãi tắm thực hiện quan trắc môi trường nước để giám sát các thông số tác nhân sinh học có thể lây nhiễm bệnh dịch qua nước, không khí, cát biển.
10. Phân công lực lượng thu gom rác ven biển (trên biển, trên bờ) hàng ngày.
Điều 13. Bảo đảm an toàn cho khách du lịch
1. Ban quản lý khu du lịch, điểm du lịch, bãi tắm du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh trong khu, điểm du lịch, bãi tắm du lịch cùng với Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình tổ chức bộ phận bảo vệ, cứu hộ, cứu nạn, cấp cứu đặc biệt tại khu vực tắm biển, ghềnh, thác. Các bộ phận trên có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết để phòng ngừa rủi ro, bảo đảm an toàn tính mạng của khách du lịch (cắm cờ báo khu vực nguy hiểm), trang bị đầy đủ các trang thiết bị phục vụ công tác cứu hộ, cứu nạn, bảo đảm an toàn cho khách du lịch khi tham quan và tham gia các dịch vụ. Trong trường hợp khẩn cấp phải kịp thời có biện pháp cứu hộ, cứu nạn để hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại đến tính mạng, tài sản đối với khách du lịch.
2. Các tổ chức, cá nhân có biện pháp đảm bảo an toàn khi kinh doanh các sản phẩm du lịch có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của khách du lịch theo quy định tại Điều 9 Nghị định 168/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Du lịch.
3. Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ ăn uống phải tuân thủ đúng quy định về điều kiện chung bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
Điều 14. Bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường trong khu du lịch, điểm du lịch, bãi tắm du lịch
1. Khách đến tham quan, du lịch tại khu du lịch, điểm du lịch, bãi tắm du lịch có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các quy định được niêm yết hoặc được phổ biến và có quyền khiếu nại đến các cấp có thẩm quyền về những vi phạm đối với quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
2. Ban quản lý khu du lịch, điểm du lịch, bãi tắm du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh trong khu, điểm du lịch, bãi tắm du lịch phải chấp hành đầy đủ các quy định về công tác đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội trong khu du lịch và có trách nhiệm như sau:
a) Phối hợp với Ủy ban nhân dân các xã, phường, thị trấn trên địa bàn xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của khách cũng như đối với các quy định trong nội quy, quy chế của khu du lịch, điểm du lịch, những hành vi lợi dụng hoạt động du lịch truyền bá văn hóa trái với thuần phong mỹ tục, lợi ích của người Việt Nam và các hoạt động thu thập thông tin thuộc bí mật Nhà nước gây phương hại đến an ninh quốc gia ảnh hưởng đến truyền thống văn hóa và thuần phong mỹ tục của cộng đồng dân cư địa phương.
b) Tham gia phát hiện và đấu tranh ngăn chặn các tệ nạn xã hội; không được mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy, các chất gây nghiện; không tổ chức, chứa chấp, môi giới mua bán dâm; không kinh doanh, phổ biến văn hóa phẩm thuộc loại cấm lưu hành; không tuyên truyền hoạt động mê tín dị đoan, truyền đạo trái phép làm ảnh hưởng xấu đến môi trường du lịch.
c) Không tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí, công cụ hỗ trợ, vật liệu nổ, các chất dễ cháy, chất độc, chất phóng xạ; không chứa chấp tội phạm đang trốn tránh pháp luật và các hoạt động trái pháp luật khác.
d) Có kế hoạch, phương án và các phương tiện về phòng cháy, chữa cháy theo quy định.
e) Thực hiện các quy định về an toàn giao thông, các phương tiện vận tải khách du lịch trong các khu du lịch, điểm du lịch phải được đăng ký và quản lý theo quy định. Không được xây dựng các công trình vi phạm hành lang an toàn giao thông.
g) Các phương tiện của khách đến các khu du lịch đều phải để đúng nơi quy định. Ban quản lý khu, điểm du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh trong khu du lịch, điểm du lịch có trách nhiệm đảm bảo an toàn phương tiện, tài sản cho khách du lịch.
4. Ban quản lý khu, điểm du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, dịch vụ thực hiện đánh giá tác động môi trường, đăng ký cam kết bảo vệ môi trường hoặc đề án bảo vệ môi trường, trong đó giải trình các yếu tố có thể gây ảnh hưởng đến môi trường và các biện pháp giảm thiểu. Bảo đảm thực hiện đúng các tiêu chuẩn môi trường trong quá trình kinh doanh dịch vụ trong khu du lịch, điểm du lịch. Lập hồ sơ cấp phép xả thải vào nguồn nước theo quy định.
5. Ban quản lý khu, điểm du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, dịch vụ có trách nhiệm niêm yết nội quy bảo vệ môi trường tại khu du lịch, các cơ sở kinh doanh du lịch và dịch vụ du lịch. Tổ chức phương tiện, hệ thống thu gom, xử lý rác thải, nước thải đúng quy định; khắc phục tác động tiêu cực do hoạt động của mình và của du khách gây ra, đảm bảo vệ sinh môi trường trong phạm vi quản lý của mình. Đối với các khu du lịch, điểm du lịch có bãi tắm du lịch phải đảm bảo các điều kiện bảo vệ môi trường được quy định tại Điều 8 trong Quy định này.
6. Nhân dân được tham gia và hưởng lợi từ hoạt động du lịch, có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên du lịch, bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ bản sắc văn hóa địa phương và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ khác.
Điều 15. Bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa tại các khu, điểm du lịch
1. Ban quản lý khu du lịch, điểm du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh trong khu, điểm du lịch phải có trách nhiệm bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, công trình công cộng; giữ gìn phong tục, tập quán truyền thống tốt đẹp, nghệ thuật, lễ hội dân gian các dân tộc và phát huy nghề thủ công truyền thống; thực hiện nếp sống văn hóa góp phần xây dựng môi trường văn hóa du lịch văn minh.
2. Các hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa và các hoạt động văn hóa tại các khu du lịch phải tuân thủ quy định về quản lý đối với di sản văn hóa và dịch vụ văn hóa. Việc tổ chức khai thác các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh phục vụ kinh doanh du lịch phải được phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
3. Hoạt động trong các khu du lịch, điểm du lịch, bãi tắm du lịch trên địa bàn tỉnh không được làm ảnh hưởng đến các giá trị văn hóa truyền thống, đạo đức và thuần phong mỹ tục của các dân tộc trên địa bàn tỉnh.
4. Tham gia các hoạt động bảo tồn, sử dụng và phát huy giá trị các loại hình nghệ thuật truyền thống của các dân tộc, xây dựng các đội văn nghệ dân tộc phục vụ khách tham quan du lịch.
Điều 16. Công tác thông tin, hỗ trợ du khách
1. Xây dựng hệ thống biển báo, biển chỉ dẫn, điểm cung cấp thông tin phục vụ khách du lịch nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho du khách tiếp cận các khu du lịch dễ dàng. Các biển báo phải tuân thủ theo tiêu chuẩn quy định của bộ, ngành chức năng liên quan.
2. Ban quản lý khu, điểm du lịch, bãi tắm du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh trong khu, điểm du lịch, bãi tắm du lịch có trách nhiệm:
- Đầu tư xây dựng hệ thống biển báo, biển chỉ dẫn, điểm cung cấp thông tin phục vụ khách du lịch trong các địa điểm đã được cơ quan thẩm quyền giao quản lý, khai thác.
- Hỗ trợ thông tin, giải quyết các yêu cầu, kiến nghị cần thiết và chính đáng của khách du lịch trong các trường hợp cần trợ giúp, tạo điều kiện thuận lợi để khách du lịch dễ dàng tiếp cận thông tin, được tư vấn, chọn lọc các cơ sở lưu trú du lịch, sản phẩm du lịch, dịch vụ du lịch, giải trí.
3. Ban quản lý khu, điểm du lịch, bãi tắm du lịch có trách nhiệm ghi nhận phản ánh của khách du lịch về tình hình phục vụ khách, chất lượng dịch vụ, giá cả và thông tin kịp thời để các đơn vị liên quan có biện pháp xử lý, chấn chỉnh các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh du lịch chưa đúng quy định hoặc sai phạm.