Điều 9. Chuyển mục đích sử dụng đất không phải xin phép khi thửa đất đã được cấp Giấy chứng nhận lần đầu trước ngày Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ có hiệu lực thi hành.
1. Chuyển mục đích sử dụng đất đối với trường hợp có giấy tờ:
a) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà trên trang 4 của Giấy chứng nhận hoặc trang bổ sung của Giấy chứng nhận có chỉnh lý về những thay đổi sau khi cấp Giấy chứng nhận và người đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 và điểm b khoản 1 Điều 6 của bản Quy định này, nay người đang sử dụng đất có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất từ thửa đất có các loại đất khác (không phải là đất ở) sang đất ở thì diện tích đất ở được xác định lại theo quy định tại Điều 6 của bản Quy định này nhưng tổng diện tích không vượt quá diện tích thửa đất được xác định lại mà hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng. Người đang sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích chênh lệch giữa diện tích đất ở được chuyển mục đích sử dụng đất và diện tích đất ở ghi trên Giấy chứng nhận.
b) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà thửa đất được tách ra từ thửa đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 và điểm b khoản 1 Điều 6 của bản Quy định này, nay người đang sử dụng đất có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất từ thửa đất có các loại đất khác sang đất ở thì diện tích đất ở được xác định lại theo quy định tại Điều 6 của bản Quy định này nhưng tổng diện tích không vượt quá diện tích thửa đất được xác định lại mà hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng. Người đang sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích chênh lệch giữa diện tích đất ở được xác định lại và diện tích đất ở ghi trên Giấy chứng nhận.
2. Chuyển mục đích sử dụng đất đối với trường hợp không có giấy tờ:
a) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà thửa đất không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 nhưng thửa đất có nhà ở được hình thành trước ngày 15/10/1993, nay người đang sử dụng đất có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất từ thửa đất có các loại đất khác sang đất ở thì diện tích đất ở được xác định lại theo quy định tại khoản 1 Điều 7 của bản Quy định này nhưng tổng diện tích không vượt quá hạn mức giao đất quy định tại Điều 4 của bản Quy định này đối với thửa đất mà hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng. Người đang sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích chênh lệch giữa diện tích đất ở được chuyển mục đích sử dụng đất và diện tích đất ở ghi trên Giấy chứng nhận.
Trường hợp diện tích chuyển mục đích sử dụng đất vượt hạn mức giao đất quy định tại Điều 4 của bản Quy định này thì người đang sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất theo đúng quy định.
b) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà thửa đất được tách ra từ thửa đất không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất năm 2003, nhưng thửa đất tách ra có nguồn gốc từ thửa đất có nhà ở được hình thành trước ngày 15/10/1993, nay người đang sử dụng đất có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất từ thửa đất có các loại đất khác sang đất ở thì diện tích đất ở được xác định lại theo quy định tại khoản 1 Điều 7 của bản quy định này nhưng tổng diện tích đất ở được xác định lại tại các thửa đất tách ra không vượt quá hạn mức giao đất quy định tại Điều 4 của bản Quy định này đối với thửa đất gốc (hình thành trước ngày 15/10/1993) mà hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng. Người đang sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích chênh lệch giữa diện tích đất ở được chuyển mục đích sử dụng đất và diện tích đất ở ghi trên Giấy chứng nhận.
Trường hợp diện tích chuyển mục đích sử dụng đất vượt hạn mức giao đất quy định tại Điều 4 của bản Quy định này thì người đang sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất theo đúng quy định.
c) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà thửa đất không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003, nhưng thửa đất có nhà ở được hình thành từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004, nay người đang sử dụng đất có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất từ thửa đất có các loại đất khác sang đất ở thì diện tích đất ở được xác định lại theo quy định tại khoản 2 Điều 7 của bản Quy định này nhưng tổng diện tích không vượt quá hạn mức giao đất quy định tại Điều 4 của bản Quy định này đối với thửa đất mà hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng. Người đang sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định đối với phần diện tích chênh lệch giữa diện tích đất ở được chuyển mục đích sử dụng đất và diện tích đất ở ghi trên Giấy chứng nhận.
Trường hợp diện tích chuyển mục đích sử dụng đất vượt hạn mức giao đất quy định tại Điều 4 của bản Quy định này thì người đang sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất theo đúng quy định.
d) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà thửa đất được tách ra từ thửa đất không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003, nhưng thửa đất tách ra có nguồn gốc từ thửa đất có nhà ở được hình thành từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004, nay người đang sử dụng đất có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất từ thửa đất có các loại đất khác sang đất ở thì diện tích đất ở được xác định lại theo quy định tại khoản 2 Điều 7 của bản Quy định này nhưng tổng diện tích đất ở được xác định lại tại các thửa đất tách ra không vượt quá hạn mức giao đất quy định tại Điều 4 của bản Quy định này đối với thửa đất gốc (từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004) mà hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng. Người đang sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích chênh lệch giữa diện tích đất ở được chuyển mục đích sử dụng đất và diện tích đất ở ghi trên Giấy chứng nhận.
Trường hợp diện tích chuyển mục đích sử dụng đất vượt hạn mức giao đất quy định tại Điều 4 của bản Quy định này thì người đang sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất theo đúng quy định.