Điều 7. Tính toán chênh lệch giá trị đất ở giữa nơi đi và nơi đến, thực hiện bù chênh đất ở cho các hộ tái định cư.
1. Xác định giá trị đất thu hồi trong vùng ngập: Căn cứ vào giá đất được Uỷ ban nhân dân tỉnh công bố vào ngày 01 tháng 01 hàng năm, Ban quản lý dự án áp giá cho từng vị trí và từng khu vực thu hồi để tính ra giá trị đất bị thu hồi tại nơi ở cũ của từng hộ.
Việc lập, thẩm định, phê duyệt phương án bồi thường được thực hiện như khoản 7, điểu 9 của Quy định này.
2. Xác định giá trị đất được giao tại nơi đến: Đơn giá đất tại các khu, điểm tái định cư nông thôn được tính bằng cách lấy tổng mức đầu tư của dự án san ủi mặt bằng cộng với chi phí đền bù khi thu hồi đất để thực hiện san ủi mặt bằng chia cho tổng diện tích đất được tạo ra do san ủi. (Riêng đối với các khu, điểm TĐC đô thị: Giá đất giao cho các hộ được tính theo giá đất của đô thị, được UBND tỉnh công bố hàng năm). Giá trị đất được giao của hộ tái định cư tại nơi đến được tính bằng diện tích đất được giao nhân với đơn giá đã xác định. Ban QLDA tính toán và quyết định giá trị đất ở giao cho các hộ TĐC.
3. Tính chênh lệch và thực hiện bù chênh:
a. Trường hợp hộ tái định cư tự bố trí được đất ở: Ban quản lý dự án quyết định chi trả phần chênh lệch đúng bằng giá trị đất bị thu hồi ở nơi bị ngập cho hộ tái định cư theo phương án bồi thường được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
b. Trường hợp nhà nước phải bố trí đất ở:
- Giá trị đất ở được giao thấp hơn giá trị đất ở bị thu hồi thì hộ tái định cư được bồi thường phần giá trị chênh lệch.
- Giá trị đất ở được giao cao hơn giá trị đất ở bị thu hồi thì hộ tái định cư không phải nộp bù phần giá trị chênh lệch.
Ban quản lý dự án lập phương án bù chênh, niêm yết công khai, ra quyết định phê duyệt và chi trả cho các hộ được hưởng chênh lệch.