Điều 5. Nguyên tắc thực hiện việc mua sắm tài sản và thẩm quyền phê duyệt dự toán mua sắm
1. Nguyên tắc thực hiện việc mua sắm tài sản:
a) Giá trị tài sản quy định tại khoản 2 điều này được tính cho một lần mua, không được chia nhỏ ra để thực hiện.
b) Tài sản thực hiện mua sắm không qua đấu thầu, không qua Hội đồng xác định giá thì phải thực hiện thẩm định giá trước khi phê duyệt dự toán mua sắm.
c) Tài sản mua sắm phải thẩm định giá quy định tại điều này đã qua đấu thầu hoặc qua Hội đồng xác định giá thì không nhất thiết phải thẩm định giá.
d) Trường hợp mua sắm tài sản thông qua hình thức đấu thầu rộng rãi và chào hàng cạnh tranh mà không thực hiện thẩm định giá, các cơ quan đơn vị mua sắm cần tham khảo giá hàng hóa của ít nhất 05 đơn vị cung cấp hàng hóa khác nhau để làm cơ sở phê duyệt dự toán và xác định giá gói thầu.
đ) Tài sản có giá trị từ 20 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng: Cơ quan trực tiếp mua sắm phải tham khảo giá của ít nhất 03 nhà cung cấp khác nhau hoặc thuê cơ quan thẩm định giá có tư cách pháp nhân để thẩm định giá trước khi phê duyệt dự toán.
e) Tài sản có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên: Cơ quan mua sắm trực tiếp hợp đồng với cơ quan thẩm định giá có tư cách pháp nhân để thẩm định giá.
2. Thẩm quyền phê duyệt danh mục và dự toán mua sắm:
a) Tài sản có giá trị dưới 100 triệu đồng: Chủ tịch UBND thành phố giao quyền cho thủ trưởng cơ quan trực tiếp mua sắm tài sản phê duyệt danh mục và dự toán mua sắm.
b) Tài sản có giá trị từ 100 triệu đồng đến dưới 02 tỷ đồng: Chủ tịch UBND thành phố giao quyền cho Giám đốc Sở Tài chính phê duyệt dự toán mua sắm.
c) Tài sản có giá trị dưới 02 tỷ đồng thuộc thẩm quyền quyết định mua sắm của UBND quận, huyện: Chủ tịch UBND thành phố giao quyền cho Chủ tịch UBND quận, huyện phê duyệt dự toán mua sắm.
d) Tài sản có giá trị từ 02 tỷ đồng trở lên: Sở Tài chính kiểm tra trình UBND thành phố phê duyệt dự toán mua sắm.