Điều 5. Bằng khen của Ủy ban nhân dân tỉnh
1. Khen thưởng theo công trạng và thành tích đạt được:
Xét khen thưởng hàng năm cho tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc khi kết thúc năm công tác của cơ quan, đơn vị, tổ chức và kết thúc năm học của các trường học đạt tiêu chuẩn theo điểm c, Khoản 1 và điểm c, Khoản 2, Điều 39 Nghị định số 91/2017/NĐ-CP, ngày 31/7/2017.
Những tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị trên địa bàn tỉnh có thành tích vận động tài trợ, được tính vào thành tích chung trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn để xem xét khen thưởng theo công trạng và thành tích đạt được trong năm (khen thưởng tổng kết năm).
2. Khen thưởng theo đợt (chuyên đề):
a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh khen thưởng và trình khen thưởng các phong trào thi đua do Thủ tướng Chính phủ, Tỉnh ủy, HĐND, UBND phát động. Các phong trào do Thủ tướng Chính phủ phát động, Tỉnh ủy, HĐND, UBND phát động do cơ quan chuyên trách làm công tác thi đua khen thưởng (Sở Nội vụ) phối hợp với các cơ quan chuyên môn về ngành, lĩnh vực, các đơn vị có liên quan tham mưu cấp có thẩm quyền xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện phong trào thi đua, đăng ký thi đua và gửi về Ban Thi đua Khen thưởng Trung ương để theo dõi tổng hợp.
Các phong trào do sở, ban, ngành tỉnh phát động có phạm vi ảnh hưởng trên địa bàn tỉnh, thời gian thực hiện phong trào từ 3 năm trở lên, thì đơn vị chủ động phối hợp với Sở Nội vụ xây dựng kế hoạch thực hiện trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và đăng ký với Sở nội vụ gửi về Ban Thi đua Khen thưởng Trung ương để theo dõi tổng hợp (nếu có).
Số lượng, tiêu chuẩn xét khen thưởng của mỗi chuyên đề được dự kiến trong kế hoạch, trong đó số lượng tập thể, cá nhân ở cấp cơ sở phải nhiều hơn tỉnh (trừ chuyên đề đó chỉ có cấp tỉnh tham gia) và phải có 01 năm được tặng giấy khen của cấp cơ sở tặng giấy khen về phong trào thi đua đã được phê duyệt.
b) Khen thưởng các phong trào thi đua ngắn hạn do sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh chủ trì có thời gian từ 1 đến 2 năm. Khi tổng kết phong trào các đơn vị bình chọn những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh tặng bằng khen (Số lượng không quá 5 tập thể, 10 cá nhân)
Sơ kết các đợt thi đua ngắn hạn có thời gian từ 1 đến 2 năm và tổng kết các đợt thi đua dưới 1 năm các sở, ban, ngành, đoàn thể phát động và khen thưởng theo thẩm quyền.
c) Đối với khen thưởng tổng kết ngành, nhiệm kỳ đại hội, kỷ niệm thành lập ngành… hoặc các lĩnh vực tiêu biểu theo ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo tỉnh không thuộc điểm a, b khoản này tùy theo thành tích đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh tặng bằng khen (số lượng không quá 5 tập thể, 10 cá nhân)
d) Các cơ quan Trung ương, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh được xem xét khen thưởng thành tích xuất sắc trong các phong trào thi đua do Chủ tịch UBND tỉnh phát động có phạm vi ảnh hưởng trên địa bàn tỉnh, góp phần xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Đối với tập thể, cá nhân thực hiện các phong trào thi đua theo văn bản của bộ, ngành Trung ương. Số lượng, đối tượng được quy định trong văn bản của Trung ương giao cấp tỉnh khen thưởng thì do cơ quan chuyên môn trao đổi với Thường trực Hội đồng Thi đua - Khen thưởng tỉnh đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét khen thưởng.
đ) Khen thưởng cho tập thể, cá nhân trong thực hiện chính sách pháp luật thuế hàng năm khi đạt các tiêu chuẩn sau:
Chấp hành tốt chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước.
Sản xuất kinh doanh hiệu quả, vượt chỉ tiêu nộp ngân sách của kế hoạch năm, tổng số thuế phát sinh nộp ngân sách năm sau cao hơn năm trước.
Trường hợp do nguyên nhân khách quan (thiên tai, dịch bệnh, địch họa…) nên số thuế nộp ngân sách giảm so năm trước nhưng vẫn thực hiện tốt nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nước và các quy định khác, nhiều năm liền có số thuế nộp lớn, có nhiều đóng góp cho ngân sách của tỉnh, góp phần cho phát triển kinh tế xã hội của tỉnh thì được xem xét khen thưởng.
3. Khen thưởng đột xuất
a) Tập thể, cá nhân có thành tích cứu người, bảo vệ tài sản của nhân dân, của Nhà nước, gương tiêu biểu dũng cảm trong phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, gương người tốt, việc tốt.
b) Tập thể là cơ quan, đơn vị, tổ chức trên địa bàn tỉnh, cá nhân đang công tác, học tập tại các cơ quan, trường học trên địa bàn tỉnh được cấp có thẩm quyền cử (hoặc cho phép) tham dự các kỳ thi, hội thi, các giải thi đấu trên tất cả các lĩnh vực do Bộ, ngành, đoàn thể Trung ương tổ chức với quy mô cấp quốc gia trở lên, các kỳ thi, hội thi, các giải thi đấu quốc tế và tập thể đạt giải trong các kỳ thi, hội thi, các giải thi đấu do tỉnh tổ chức cụ thể:
Đạt giải khuyến khích trở lên tại các kỳ thi, hội thi, các giải thi đấu quốc tế.
Đạt giải Nhất, Nhì, Ba (hoặc Huy chương Vàng, Bạc, Đồng) trong các kỳ thi, hội thi, các giải thi đấu cấp quốc gia.
Tập thể xếp hạng Nhất, Nhì, Ba toàn đoàn trong các kỳ thi, hội thi, các giải thi đấu tỉnh do Lãnh đạo tỉnh (Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh) làm Trưởng ban, Chủ tịch Hội đồng hoặc ký ban hành Kế hoạch tổ chức, Điều lệ (Thể lệ) giải thưởng.
Huấn luyện viên, giáo viên trực tiếp huấn luyện, bồi dưỡng tập thể, cá nhân đạt giải cấp quốc gia, quốc tế đạt giải Nhất (Huy chương Vàng).
c) Tập thể có mức đóng góp từ 200 triệu đồng, cá nhân có mức đóng góp từ 100 triệu đồng trở lên, hộ gia đình có mức đóng góp từ 150 triệu đồng trở lên; tập thể, cá nhân là người nước ngoài có mức đóng góp như trong nước.
Tập thể có công vận động đóng góp từ 400 triệu đồng, từ 200 triệu đồng trở lên đối với cá nhân để xây dựng các công trình phúc lợi xã hội, các hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo…nơi tiếp nhận vật chất (hoặc tiền) đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tặng Bằng khen.
Tập thể, cá nhân có thành tích đóng góp công sức trên các lĩnh vực văn hóa, xã hội, kinh tế, an ninh - quốc phòng, góp phần giữ vững an ninh trật tự, phát triển kinh tế xã hội tỉnh Vĩnh Long. Số lượng tập thể, cá nhân được khen thưởng do cơ quan chuyên môn trao đổi với Thường trực Hội đồng Thi đua-Khen thưởng tỉnh đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh khen thưởng.
Tập thể, cá nhân lập được thành tích đột xuất hoặc thành tích đặc biệt xuất sắc trong các lĩnh vực có tầm ảnh hưởng đối với tỉnh hoặc khu vực, quốc gia, quốc tế do đơn vị, địa phương quản lý trực tiếp hoặc cơ quan thông tin, truyền thông phát hiện, biểu dương đề nghị khen thưởng.
d) Khen thưởng cho tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, được công nhận di tích, di sản văn hóa cấp quốc gia. Số lượng tập thể, cá nhân được khen thưởng do cơ quan chuyên môn trao đổi với Thường trực Hội đồng Thi đua - Khen thưởng tỉnh đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh khen thưởng theo quy định.
đ) Người nhóm máu hiếm (DRh âm) có hiến máu, được đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen.
4. Khen thưởng đối ngoại
Thực hiện theo Khoản 6 Điều 13 Nghị định số 91/2017/NĐ-CP ngày 31/7/2017; cá nhân là người nước ngoài có mức đóng góp từ 300 triệu đồng trở lên, tập thể là người nước ngoài có mức đóng góp từ 600 triệu đồng trở lên.