Điều 4. Nguyên tắc áp dụng
1. Việc thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai phải căn cứ vào văn bản, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi vi phạm pháp luật về đất đai.
2. Trong quá trình phát hiện, xử lý thu hồi đất do vi phạm pháp luật, các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ, đảm bảo phải xử lý nhanh chóng, kịp thời và có kế hoạch đưa đất vào khai thác có hiệu quả đúng mục đích.
3. Người sử dụng đất có vi phạm pháp luật phải chấp hành quyết định thu hồi đất của cơ quan có thẩm quyền, mọi quyền lợi liên quan đến đất bị thu hồi (nếu có) được giải quyết theo quy định của pháp luật về đất đai.
4. Các trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai không được bồi thường về đất; tài sản gắn liền với đất trừ các trường hợp quy định tại khoản 3, 7, 8 Điều 3 của Quy định này.
5. Công bố công khai trên trang thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ Tài nguyên và Môi trường và Tổng cục Quản lý Đất đai đối với các dự án đầu tư không đưa đất vào sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc chậm tiến độ sử dụng đất 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư; các dự án được gia hạn; các dự án chậm tiến độ sử dụng đất vì lý do bất khả kháng.
6. Hình thức xử phạt, xác định tính chất, mức độ của hành vi vi phạm pháp luật được nêu tại Điều 3 Quy định này phải tuân thủ theo quy định tại Điều 4, Điều 5 Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10 tháng 11 năm 2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.