Điều 3. Các trường hợp không có tính khả thi để khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm
1. Các trường hợp thuộc hành vi làm suy giảm chất lượng đất
a) Làm mất hoặc giảm độ dày tầng đất đang canh tác trên 20 cm đối với đất trồng lúa, trên 30 cm đối với đất trồng cây hàng năm khác, trên 50 cm đối với đất trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp.
b) Làm thay đổi lớp đất mặt của đất sản xuất nông nghiệp bằng các loại vật liệu, chất thải hoặc đất lẫn cát, sỏi, đá hay loại đất có thành phần khác với loại đất đang sử dụng trên 50 % dẫn đến làm mất khả năng sử dụng đất theo mục đích đã được xác định.
c) Gây xói mòn, rửa trôi đất nông nghiệp mà dẫn đến làm mất khả năng sử dụng đất theo mục đích đã được xác định.
2. Các trường hợp thuộc hành vi làm biến dạng địa hình
a) Thay đổi làm tăng độ dốc bề mặt đất đến trên 150 đối với đất trồng cây hàng năm, đến trên 200 đối với đất trồng cây lâu năm, đến trên 300 đối với đất lâm nghiệp.
b) San lấp đất có mặt nước chuyên dùng (trừ hồ thủy lợi) mà dẫn đến làm mất khả năng sử dụng đất theo mục đích đã được xác định.
c) Hạ thấp bề mặt đất trên 0,8 m; san lấp nâng cao, hạ thấp bề mặt của đất sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản trên 0,8 m.
d) Các trường hợp được quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều này không áp dụng đối với trường hợp chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên đất trồng lúa sang trồng lúa kết hợp nuôi trồng thuỷ sản, xây dựng công trình phục vụ trực tiếp sản xuất nông nghiệp trên đất trồng lúa, cải tạo đất nông nghiệp thành ruộng bậc thang và hình thức cải tạo đất khác phù hợp với mục đích sử dụng đất được giao, được thuê, được công nhận quyền sử dụng đất hoặc phù hợp với dự án đầu tư đã được Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất phê duyệt hoặc chấp thuận.