Điều 21. Trường hợp tổ chức bầu cử Trưởng ấp, Trưởng khu vực thành cuộc bầu cử riêng
1. Đối với quy trình giới thiệu danh sách người ứng cử Trưởng ấp, Trưởng khu vực được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 18 của Quy chế này và phải tổ chức Hội nghị cử tri để thảo luận và hội nghị ấn định danh sách những người ứng cử sau khi tổ chức Hội nghị Ban Công tác Mặt trận ấp, khu vực dự kiến danh sách người ứng cử Trưởng ấp, Trưởng khu vực.
2. Trình tự bầu cử
a) Chuẩn bị cơ sở vật chất bầu cử:
- Tổ bầu cử bố trí phòng bỏ phiếu, chuẩn bị hòm phiếu, phiếu bầu;
- Phiếu bầu có đóng dấu của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã. Trên phiếu bầu ghi rõ họ tên những người ứng cử.
b) Tổ trưởng Tổ bầu cử đọc quyết định công bố ngày tổ chức bầu cử; quyết định thành lập Tổ bầu cử, nhiệm vụ, quyền hạn của Tổ bầu cử; quyết định thành phần cử tri tham gia bầu cử.
c) Tiến hành bỏ phiếu
- Trước khi bỏ phiếu, Tổ bầu cử phải kiểm tra hòm phiếu trước sự chứng kiến của cử tri.
- Việc bỏ phiếu bắt đầu từ 07 giờ đến 17 giờ cùng ngày. Tùy tình hình địa phương, Tổ bầu cử có thể quyết định bắt đầu cuộc bỏ phiếu sớm hơn và kết thúc muộn hơn giờ quy định, nhưng không được bắt đầu trước 05 giờ và kết thúc quá 20 giờ cùng ngày. Khu vực bỏ phiếu nào đã có 100% số cử tri (hoặc cử tri đại diện hộ gia đình) đi bầu thì Tổ bầu cử đó có thể kết thúc cuộc bỏ phiếu sớm hơn.
- Khi hết giờ bỏ phiếu, nếu còn cử tri có mặt tại phòng bỏ phiếu mà chưa kịp bỏ phiếu thì chỉ sau khi số cử tri này bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử mới được tuyên bố kết thúc cuộc bỏ phiếu.
- Trong ngày bầu cử, cuộc bỏ phiếu phải được tiến hành liên tục. Trong trường hợp có sự kiện bất ngờ làm gián đoạn việc bỏ phiếu thì Tổ bầu cử phải lập tức niêm phong giấy tờ và hòm phiếu, kịp thời báo cáo cho Ủy ban nhân dân cấp xã biết, đồng thời phải có những biện pháp cần thiết để cuộc bỏ phiếu được tiếp tục.
- Trong trường hợp đặc biệt cần hoãn ngày bỏ phiếu hoặc bỏ phiếu sớm hơn ngày quy định thì Tổ bầu cử phải kịp thời báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã biết để đề nghị Ủy ban nhân dân cấp huyện trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định.
d) Kiểm phiếu
- Tổ bầu cử kiểm phiếu tại phòng bỏ phiếu ngay sau khi cuộc bỏ phiếu kết thúc.
- Trước khi mở hòm phiếu, Tổ bầu cử phải thống kê, lập biên bản, niêm phong số phiếu bầu không sử dụng đến và phải mời 02 cử tri không phải là người ứng cử có mặt tại đó chứng kiến việc kiểm phiếu.
- Người ứng cử, đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị, ấp, khu vực có người ứng cử có quyền chứng kiến việc kiểm phiếu và khiếu nại về việc kiểm phiếu. Các phóng viên báo chí được chứng kiến việc kiểm phiếu.
- Những phiếu sau đây là không hợp lệ:
+ Phiếu không phải là phiếu theo mẫu quy định do Tổ bầu cử phát;
+ Phiếu không có dấu của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã;
+ Phiếu để số người được bầu quá số người mà ấp, khu vực được bầu;
+ Phiếu gạch xóa hết tên những người ứng cử;
+ Phiếu ghi tên người ngoài danh sách ứng cử, phiếu có viết thêm. đ) Lập biên bản kiểm phiếu
- Sau khi kiểm phiếu xong, Tổ bầu cử phải lập biên bản kiểm phiếu. Biên bản kiểm phiếu phải ghi rõ:
+ Tổng số cử tri (hoặc cử tri đại diện hộ gia đình) của ấp, khu vực;
+ Số cử tri đã tham gia bỏ phiếu;
+ Số phiếu phát ra;
+ Số phiếu thu vào;
+ Số phiếu hợp lệ;
+ Số phiếu không hợp lệ;
+ Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;
+ Những khiếu nại đã nhận được, những khiếu nại đã giải quyết và cách giải quyết, những khiếu nại chuyển đến Ủy ban nhân dân cấp xã giải quyết.
- Biên bản kiểm phiếu được lập thành 03 bản, có chữ ký của Tổ trưởng, Thư ký Tổ bầu cử và 02 cử tri được mời chứng kiến việc kiểm phiếu. Trong đó, 01 bản gửi đến Ủy ban nhân dân, 01 bản gửi Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và 01 bản do Tổ trưởng Tổ bầu cử lưu.
3. Những người ứng cử được quá 1/2 số phiếu hợp lệ và được nhiều phiếu hơn thì trúng cử. Trong trường hợp có nhiều người được số phiếu bằng nhau thì người nhiều tuổi hơn là người trúng cử.