vanban.org

Điều 7. Quản lý hoạt động khai thác thủy sản trong vùng nước nội địa — Quyết định 02/2011/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 31/10/2025 Sửa đổi, bổ sung: 12/2018/QĐ-UBND · 26/03/2018
Bình Định Ban hành 14/01/2011 Hiệu lực 24/01/2011 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 1 phiên bản · 15 năm
Quyết định số 02/2011/QĐ-UBND Về việc Ban hành Quy chế quản lý hoạt động khai thác, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản trên địa bàn tỉnh Bình Định · 02/2011/QĐ-UBND
04/04/201812/2018/QĐ-UBNDChưa hợp nhất 24/01/2011Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 02/2011/QĐ-UBND › Chương III › Điều 7
Đọc toàn văn

Điều 7. Quản lý hoạt động khai thác thủy sản trong vùng nước nội địa

1. Nghề cá thể thao, giải trí và một số nghề khai thác thủy sản thủ công nhỏ được tự do sử dụng trên đầm, sông, hồ và các vùng nước tự nhiên của tỉnh là: câu tay các loại; nơm; dậm; xúc vợt; chài quăng; câu giăng và rê bén có chiều dài dưới 50m; các loại lờ truyền thống, lợp; đẽo hầu, cào ngao, bắt cua, ốc bằng tay.

Hoạt động các loại hình này không được gây ảnh hưởng đến các loại ngư cụ của ngư dân tại địa phương đã đăng ký.

2. Tổ chức, cá nhân khai thác thủy sản tại vùng nước nội địa phải tuân thủ các quy định sau:

a. Cấm sử dụng tàu cá có công suất máy chính từ 20 CV trở lên để khai thác thủy sản trong vùng nước nội địa.

b. Cấm khai thác thủy sản bằng các loại nghề: te xiệp, giã cào, lưới quét; lưới xiếc, cào nghêu có sử dụng thuyền gắn máy tại các đầm Thị Nại, Đề Gi, Trà Ổ.

c. Các tổ chức, cá nhân khai thác thủy sản bằng tàu cá có trọng tải từ 0,5 tấn trở lên phải có Giấy phép khai thác thủy sản.

d. Các tổ chức, cá nhân khai thác thủy sản bằng các loại nghề: đăng, đáy, đón, chồ rớ, lưới rê cước, lồng bẫy mà không dùng tàu cá hoặc sử dụng tàu cá có trọng tải dưới 0,5 tấn phải có Chứng nhận quyền khai thác thủy sản trong vùng nước nội địa.

đ. Du nhập nghề khai thác mới trên các đầm, hồ phải được phép của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm đánh giá thẩm định nghề mới, đảm bảo nguyên tắc bảo vệ môi trường và nguồn lợi thủy sản.

e. Các loại ngư cụ khai thác cố định: đăng, đáy, sáo, chồ rớ đặt ở vị trí phải đảm bảo đường di cư thủy sản trên 1/3 bề rộng của cửa lạch và phải đảm bảo hành lang an toàn giao thông đường thủy nội địa trên các sông, đầm.

g. Kích thước mắt lưới nhỏ nhất tại phần tập trung cá của nghề đăng đáy, sáo là 2a=18 mm; khoảng cách tối thiểu giữa hai trộ nghề sáo là 150m (khoảng cách hai trộ nghề được tính là khoảng cách nò hàng trên đến cánh hàng dưới); khoảng cách tối thiểu giữa hai cánh sáo liền kề là 10m.

h. Ngư dân sử dụng các ngư cụ cố định chỉ được bố trí đánh bắt trên vùng nước của ngư dân địa phương mình và phải dành hành lang cho các loài thủy sản di chuyển theo quy hoạch được duyệt. Ngư dân sử dụng ngư cụ di động có thể khai thác các vùng mặt nước liền kề nhưng không làm ảnh hưởng đến các ngư cụ cố định.

3. Quyền khai thác thủy sản trên vùng nước nội địa bao gồm các quyền hạn và trách nhiệm ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm pháp luật thủy sản, trách nhiệm bảo vệ ngư trường, phát triển nguồn lợi thủy sản, trách nhiệm đảm bảo luồng tuyến giao thông thủy, trách nhiệm phòng chống suy thoái môi trường vùng nước và đóng góp nghĩa vụ thuế cho Nhà nước.

a. Ủy ban nhân dân tỉnh ủy quyền cho Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố có vùng nước nội địa cấp quyền khai thác thủy sản cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình ngư dân cấp thôn, xã trong vùng mặt nước cụ thể thuộc địa bàn quản lý trên cơ sở số lượng, chủng loại ngư cụ, mùa vụ và đối tượng đánh bắt.

b. Các loại thuế khai thác thủy sản tự nhiên trên vùng nước nội địa được để lại 100% cho ngân sách cấp xã dùng để chi phí cho việc tổ chức thu thuế trong cộng đồng và công tác, quản lý, tổ chức, thực hiện các hoạt động bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản.

c. Mức sản lượng khai thác thủy sản tính thuế cho từng khu vực khai thác thủy sản tại các vùng nước nội địa do Cục Thuế tỉnh thống nhất với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trình Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định sau khi đã trao đổi với chính quyền cấp xã và cộng đồng ngư dân.

d. Các tổ chức, cá nhân được cấp quyền khai thác thủy sản có thời hạn 10 năm đối với vùng nước bình thường, 5 năm đối với vùng nước nhạy cảm. Đối với vùng nước đặc biệt nhạy cảm, thì quyền khai thác thủy sản chỉ được cấp hằng năm hoặc giao cho Ủy ban nhân dân xã tổ chức đấu giá khai thác hàng năm.

đ. Nhà nước có quyền thu hồi toàn bộ hoặc một phần vùng nước đã giao cho tổ chức, cá nhân khai thác thủy sản trong các trường hợp:

-  Tổ chức, cá nhân được giao không còn tồn tại.

-  Tổ chức, cá nhân tự nguyện trả lại vùng nước được giao.

-  Vùng nước được giao sử dụng đã hết thời hạn.

-  Tổ chức, cá nhân không tiến hành khai thác thủy sản, không thực hiện việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản, sử dụng không đúng mục đích, không hiệu quả, không được cơ quan có thẩm quyền cho phép.

- Tổ chức, cá nhân được giao quyền khai thác trên vùng nước đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật về quản lý thủy sản và các vi phạm pháp luật khác.

- Thời hạn sử dụng quyền khai thác thủy sản trên vùng nước chưa hết nhưng Nhà nước có nhu cầu sử dụng vùng nước đã giao để phát triển kinh tế - xã hội.

e. Cơ quan Nhà nước cấp nào quyết định cấp quyền khai thác thủy sản thì có quyền quyết định hủy bỏ, chấm dứt quyền khai thác thủy sản đã cấp.

4. Việc quy định khu vực cấm khai thác và khai thác có thời hạn trên vùng nước nội địa sẽ được tiến hành từng bước thích hợp, bảo đảm công ăn việc làm và đời sống cho cộng đồng ngư dân theo đúng quy định của Luật Thủy sản. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm nghiên cứu, đề xuất các khu vực cấm khai thác và khai thác có thời hạn, lập và bổ sung danh mục các loại nghề khai thác bị hạn chế phát triển hoặc bị cấm trên địa bàn tỉnh.

5. Việc sử dụng chắn sáo, lưới, lồng nuôi thủy sản để ăn thực vật, phù du và các hình thức nuôi khác trên vùng nước nội địa phải tuân thủ theo quy hoạch và được phép của cơ quan có thẩm quyền.

6. Việc khai thác các loài thủy sản vùng nước nội địa có kích thước tối thiểu nhỏ hơn quy định để sử dụng vào mục đích nghiên cứu khoa học, để làm giống hoặc cứu nạn các loài thủy sản sống trong vùng nước bị ô nhiểm có nguy cơ bị chết thì phải được Ủy ban nhân dân tỉnh chấp thuận.