Điều 10. Xử lý vi phạm kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, đường tỉnh
1. Nhân viên tuần đường thuộc Nhà thầu quản lý, bảo dưỡng thường xuyên đường bộ phát hiện vi phạm tiến hành lập biên bản xác nhận hành vi vi phạm đồng thời thông báo về Nhà thầu quản lý, bảo dưỡng thường xuyên, vận hành khai thác công trình đường bộ. Trong vòng 24 giờ kể từ khi phát hiện vi phạm, Nhà thầu quản lý, bảo dưỡng thường xuyên đường bộ căn cứ tính chất vi phạm thông báo bằng văn bản đến Thanh tra Sở giao thông vận tải hoặc UBND cấp xã và phối hợp với các cơ quan trên để lập biên bản vi phạm hành chính, yêu cầu chấm dứt các hành vi vi phạm, khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra và xử lý theo thẩm quyền.
2. Nhà thầu quản lý, bảo dưỡng thường xuyên, vận hành khai thác công trình đường bộ có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc chấp hành biên bản vi phạm hành chính và quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Nếu tổ chức, cá nhân vi phạm chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, tự giác khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra thì Nhà thầu quản lý, bảo dưỡng thường xuyên, vận hành khai thác công trình đường bộ hoàn thiện hồ sơ bàn giao cho UBND cấp xã theo dõi, quản lý.
3. Trường hợp tổ chức, cá nhân vi phạm không chấp hành quyết định xử phạt hành chính và không tự giác tháo dỡ vi phạm, hoặc đã chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng không tự giác tháo dỡ. Thanh tra Sở giao thông vận tải chủ trì, phối hợp Nhà thầu quản lý, bảo dưỡng thường xuyên, vận hành khai thác công trình đường bộ, UBND cấp xã hoàn thiện hồ sơ vi phạm gửi UBND cấp huyện đề nghị cưỡng chế giải tỏa.
4. Trường hợp Chủ tịch UBND cấp huyện không thực hiện tổ chức cưỡng chế giải tỏa vi phạm thì Thanh tra Sở giao thông vận tải có văn bản báo cáo Sở Giao thông Vận tải để báo cáo UBND tỉnh xem xét, giải quyết. Chủ tịch UBND cấp huyện chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND tỉnh về việc không phối hợp xử lý, giải tỏa vi phạm.