vanban.org

Điều 10. Xác định trọng yếu kiểm toán — Quyết định 01/2019/QĐ-KTNN

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 28/04/2023 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 28/04/2023 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 05/2023/QĐ-KTNN · 28/04/2023
Kiểm toán nhà nước Ban hành 29/01/2019 Hiệu lực 16/03/2019 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 7 năm
Quyết định số 01/2019/QĐ-KTNN Hướng dẫn phương pháp tiếp cận kiểm toán dựa trên đánh giá rủi ro và xác định trọng yếu trong kiểm toán Báo cáo tài chính doanh nghiệp · 01/2019/QĐ-KTNN
28/04/202305/2023/QĐ-KTNNBãi bỏ Đang xem 16/03/2019Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 01/2019/QĐ-KTNN › Chương III › Điều 10
Đọc toàn văn

Điều 10. Xác định trọng yếu kiểm toán

Việc xác định trọng yếu kiểm toán thực hiện theo hướng dẫn tại các đoạn từ Đoạn 21 đến Đoạn 42 CMKTNN 1320 - Xác định và vận dụng trọng yếu trong kiểm toán tài chính, trong đó cần lưu ý:

1. Xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTC (Theo phụ lục 03/HD-RRTY-DN)

a) Xác định tiêu chí được sử dụng để ước tính xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTC

- Việc xác định tiêu chí để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN phụ thuộc vào xét đoán chuyên môn của KTVNN về nhu cầu thông tin của đa số người sử dụng báo cáo quan tâm nhiều nhất đến chỉ tiêu nào.

- Thông thường, chỉ tiêu quan tâm của các cơ quan quản lý nhà nước và công chúng, các nhà doanh nghiệp là: Tổng doanh thu, lợi nhuận, tài sản, vốn chủ sở hữu, vì vậy KTVNN có thể lựa chọn một hoặc một số chỉ tiêu này làm tiêu chí ước lượng mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN. Tuy nhiên trong hoàn cảnh thực tế, KTVNN phải sử dụng xét đoán chuyên môn để quyết định lựa chọn tiêu chí phù hợp, mà không nhất thiết phải lựa chọn các chỉ tiêu này.

- Việc xác định tiêu chí để ước tính mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN phụ thuộc vào xét đoán chuyên môn của KTVNN, tùy thuộc vào đặc điểm doanh nghiệp, thực trạng tài chính, nhu cầu của đa số người sử dụng thông tin thông thường theo một số trường hợp sau:

+ Nếu là doanh nghiệp kết quả kinh doanh bị lỗ hoặc có lãi không ổn định; doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu phi lợi nhuận có thể chọn các tiêu chí: Tổng doanh thu; Tổng tài sản (do lợi nhuận không phản ánh được quy mô của đơn vị);

+ Nếu là doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, niêm yết trên thị trường chứng khoán, kinh doanh có lãi ổn định có thể chọn tiêu chí: Lợi nhuận kế toán trước thuế (do nhiều người sử dụng thông tin có thể có quan tâm nhiều hơn đến lợi nhuận);

+ Nếu doanh nghiệp có khả năng bị phá sản, có lỗ lũy kế lớn so với vốn góp; doanh nghiệp thay đổi đáng kể ngành nghề kinh doanh hoặc mới đi vào hoạt động có thể chọn tiêu chí: Tổng tài sản; Vốn chủ sở hữu (do doanh nghiệp mới thay đổi ngành nghề kinh doanh nên có thể doanh thu và lợi nhuận chưa ổn định, nhiều người sử dụng thông tin có thể có quan tâm nhiều hơn đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp).

Ví dụ: Công ty A là công ty sản xuất công nghiệp hoạt động ổn định, đã niêm yết trên thị trường chứng khoán có Báo cáo tài chính tại thời điểm cuối năm x.x, như sau:

Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh

Chỉ tiêu MS Số tiền (trđ)
1. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 01 3.052.000
2. Giá vốn hàng bán 11 2.300.000
3. Doanh thu hoạt động tài chính 21 2.000
4. Chi phí quản lý doanh nghiệp 24 722.000
5. Lợi nhuận kế toán trước thuế 50 32.000

Bảng cân đối kế toán

Chỉ tiêu MS Số tiền (trđ)
1. Tiền 111 172.000
2. Phải thu khách hàng 131 280.000
3. Trả trước cho người bán 132 24.000
4. Các khoản phải thu khác 136 6.000
5. Hàng tồn kho 141 400.000
6. Tài sản cố đinh hữu hình 220 3.000.000
7. Tài sản cố định vô hình 227 2.000
8. Chi phí xây dựng dở dang 242 64.000
9. Tài sản khác 260 1.000
10. Chi phí trả trước dài hạn 261 342.000
Cộng tài sản   4.291.000
1. Nợ ngắn hạn 310 500.000
2. Phải trả người bán ngắn hạn 311 400.000
3. Người mua trả trước ngắn hạn 312 8.000
4. Thuế và các khoản phải nộp nhà nước 313 1.000
5.Các khoản phải trả, phải nộp khác 319 300.000
6. Nợ dài hạn 330 1.800.000
7. Vốn chủ sở hữu 410 1.100.000
8. Quỹ đầu tư phát triển 418 100.000
9. Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối 421 41.000
10. Quỹ khen thưởng phúc lợi 322 41.000
Cộng nguồn vốn   4.291.000

Trong trường hợp này, do Công ty A đã niêm yết trên sàn chứng khoán nên chỉ tiêu được nhiều đối tượng sử dụng báo cáo quan tâm nhất là chỉ tiêu lợi nhuận; mặt khác, hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong năm có lợi nhuận do đó có thể lựa chọn tiêu chí Lợi nhuận kế toán trước thuế để ước lượng mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN.

- Trong trường hợp chỉ kiểm toán một số thông tin, yếu tố của BCTCDN, thì thông tin, yếu tố đó có thể là tiêu chí phù hợp để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN.

Ví dụ: Nếu chỉ kiểm toán tài sản, không quan tâm đến kết quả kinh doanh trong năm, có thể lựa chọn tiêu chí tài sản làm tiêu chí để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN.

b) Lấy giá trị tiêu chí được lựa chọn để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN

- Giá trị tiêu chí xác định trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán thường dựa trên các số liệu trên BCTCDN do đơn vị lập cung cấp (ví dụ: lấy các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính như Tổng doanh thu, Tổng chi phí, Tổng tài sản, Vốn chủ sở hữu, Lợi nhuận kế toán trước thuế;...). Khi báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán được lập cho kỳ kế toán dài hơn hoặc ngắn hơn 12 tháng, mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN cần phải được xác định dựa trên BCTCDN được lập cho kỳ kế toán đó.

- Giá trị của tiêu chí lựa chọn xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN cần được dựa trên các dữ liệu tài chính phù hợp. Những dữ liệu này thường bao gồm các số liệu về kết quả hoạt động và tình hình tài chính trong kỳ được kiểm toán, tùy theo hoàn cảnh cụ thể, KTVNN có thể điều chỉnh tăng, giảm giá trị tiêu chí cho phù hợp khi loại trừ các biến động bất thường hoặc có những thay đổi quan trọng ngành nghề, lĩnh vực hay môi trường hoạt động của đơn vị.

Ví dụ (tiếp theo ví dụ trên): Giả sử trong năm Công ty A ghi nhận khoản chi phí đột biến để nhận quyền khai thác khoáng sản 1.000 trđ cho các năm trước dẫn đến chỉ tiêu Lợi nhuận kế toán trước thuế có yếu tố biến động bất thường. Trong trường hợp này, nếu tiêu chí Lợi nhuận kế toán trước thuế được lựa chọn làm tiêu chí thì giá trị tiêu chí được chọn để xác định mức trọng yếu là 33.000 triệu đồng thay cho Lợi nhuận kế toán trước thuế 32.000 triệu đồng nhằm mục đích loại trừ yếu tố biến động bất thường do phải nộp quyền khai thác khoáng sản.

c) Lựa chọn tỷ lệ để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN

- Trên cơ sở khung tỷ lệ xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN quy định tại Khoản 1 Điều 6 của hướng dẫn này, KTVNN phải sử dụng xét đoán chuyên môn khi xác định tỷ lệ % áp dụng cho tiêu chí đã lựa chọn cho từng cuộc kiểm toán, phụ thuộc vào hiểu biết của KTVNN về mức độ sai sót có thể ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng BCTCDN.

- Tùy theo từng doanh nghiệp, với cùng một tiêu chí lựa chọn nhưng tỷ lệ % tương ứng để xác định mức trọng yếu có thể khác nhau, chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố: đặc điểm, quy mô doanh nghiệp, lĩnh vực kinh doanh;.... (Chi tiết xem Bảng 2).

           Bảng 2. Nhân tố ảnh hưởng đến tiêu chí lựa chọn mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN

TT Trị số của các tiêu chí lựa chọn
Hướng tới tỷ lệ % cao trong khung Hướng tới tỷ lệ % thấp trong khung
1 Doanh nghiệp hoạt động trong môi trường kinh doanh ổn định. Doanh nghiệp hoạt động trong môi trường kinh doanh biến động.
2. Doanh nghiệp hoạt động ít phức tạp và có ít hoạt động kinh doanh chính. Doanh nghiệp có hoạt động phức tạp và có nhiều hoạt động kinh doanh chính.
3 Doanh nghiệp ít có tác động đến nhiệm vụ bình ổn chính trị. Doanh nghiệp tác động nhiều đến bình ổn chính trị.
4 Doanh nghiệp hoạt động ổn định không có biến động về sở hữu. Doanh nghiệp chuẩn bị có biến động về sở hữu (chuẩn bị niêm yết hoặc cổ phần hóa, chuẩn bị bán).
5 Ảnh hưởng đến ít người sử dụng báo cáo. Ảnh hưởng đến nhiều người sử dụng báo cáo
6 Doanh nghiệp có quy mô nhỏ, ít đầu mối trực thuộc. Doanh nghiệp có quy mô lớn (tài sản, nguồn vốn, số lao động…), nhiều đơn vị, đầu mối trực thuộc.
  ....  

Lưu ý: Các yếu tố trên chỉ mang tính định hướng, có nhiều các nhân tố khác ảnh hưởng đến tính phù hợp của mức trọng yếu tùy từng trường hợp cụ thể của doanh nghiệp được kiểm toán.

- Xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN:

Mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN = Tỷ lệ phần trăm (%) xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN X Giá trị tiêu chí lựa chọn để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN

Ví dụ (tiếp theo ví dụ trên tại Công ty A): Do Công ty A là công ty lớn, phức tạp, đã niêm yết trên sàn chứng khoán nên lựa chọn tỷ lệ thấp (5%) để xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN theo Chỉ tiêu lợi nhuận kế toán trước thuế. Trường hợp này, mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN của Công ty A = 5% x 33.000 triệu đồng = 1.650 triệu đồng (Chi tiết xem Bảng 3).

Bảng 3. Xác định trọng yếu kiểm toán

Nội dung   Kế hoạch

Tiêu chí được sử dụng để ước tính mức trọng yếu

(Đánh dấu vào ô lựa chọn)

 

(x) Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế

 Tổng doanh thu   Tổng chi phí   Vốn chủ sở hữu   Tổng tài sản   Khác  

Nguồn số liệu để xác định mức trọng yếu

(Đánh dấu vào ô lựa chọn)

 

(x) BCTC trước kiểm toán

 BCTC năm trước   Kế hoạch SXKD   Ước tính
Lý do lựa chọn tiêu chí này   Công ty A đã niêm yết trên sàn chứng khoán nên chỉ tiêu được nhiều đối tượng sử dụng báo cáo quan tâm nhất là chỉ tiêu lợi nhuận; mặt khác, hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong năm có lợi nhuận.
Giá trị tiêu chí được lựa chọn (a) 32.000 trđ
Điều chỉnh ảnh hưởng của các biến động bất thường (b) -1.000 trđ
Giá trị tiêu chí được lựa chọn sau điều chỉnh (c)=(a)-(b) 33.000 trđ

Tỷ lệ sử dụng để ước tính mức trọng yếu

(Đánh dấu vào ô lựa chọn và ghi cụ thể tỷ lệ % lựa chọn trong ngoặc)

(d)

(x) [3%-10%] LN trước thuế: chọn 5%

 [0,5%-3%] Doanh thu thuần   [0,5%-3%] Tổng chi phí   [1%-5%] Vốn chủ sở hữu   [1%-2%] Tổng tài sản   [            ] Khác
Lý do lựa chọn tỷ lệ này   Do Công ty A là công ty lớn, phức tạp nên lựa chọn tỷ lệ thấp 5% trên Lợi nhuận kế toán trước thuế.
Mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN (e)=(c)*(d) 1.650 trđ
Tỷ lệ sử dụng để ước tính mức trọng yếu thực hiện

(f)

[50%-75%]. Chọn: 50%
Lý do lựa chọn tỷ lệ này   Do đánh giá doanh nghiệp có rủi ro cao nên chọn mức thấp 50%
Mức trọng yếu thực hiện (1) (g)=(e)*(f) 825 trđ
Tỷ lệ sử dụng để ước tính ngưỡng sai sót không đáng kể (h) [0%-3%]. Chọn 1%
Lý do lựa chọn tỷ lệ này   Do đây là doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh phức tạp, có thể có nhiều sai sót
Ngưỡng sai sót không đáng kể (i)=(e)*(h) 16,5 trđ

2. Xác định mức trọng yếu đối với khoản mục cần lưu ý (Theo Phụ lục 04/HD-RRTY-DN)

- Trong một số trường hợp đặc biệt, có thể có các khoản mục có thể có sai sót với mức thấp hơn mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN nhưng vẫn ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng thì KTVNN phải xác định mức trọng yếu hoặc các mức trọng yếu áp dụng cho từng khoản mục này. KTVNN có thể dựa vào xét đoán chuyên môn của mình để xác định mức trọng yếu đối với khoản mục cần lưu ý hoặc vận dụng tỷ lệ % trong khung tỷ lệ tại chính sách xác định mức trọng yếu kiểm toán để xác định tương tự như đối với xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp thì mức trọng yếu đối với khoản mục cần lưu ý đều được xác định ở mức thấp hơn mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN.

- Đối với những khoản mục trọng yếu về bản chất hoặc hậu quả của sai sót tại khoản mục đó nếu xảy ra là nghiêm trọng thì mức trọng yếu được xác định ở mức thấp. Trường hợp có những khoản mục có yêu cầu chính xác cao về số liệu, mức trọng yếu đối với khoản mục đó có thể được xác định ở mức rất thấp (mức trọng yếu gần bằng 0). Khi đó, KTVNN có thể cần kiểm toán toàn bộ các giao dịch có liên quan nhằm phát hiện tất cả các sai sót có liên quan đến khoản mục.

Ví dụ (tiếp theo ví dụ trên tại Công ty A): Chỉ tiêu thực hiện nghĩa vụ với ngân sách dư 1.000 triệu đồng, mặc dù nhỏ hơn mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN  nhưng là chỉ tiêu quan trọng liên quan đến nghĩa vụ với NSNN, nên xác định mức trọng yếu riêng. Khi đó, KTVNN có thể dựa vào xét đoán chuyên môn của mình để xác định mức trọng yếu đối với khoản mục ở mức thấp hơn mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN. Giả sử KTVNN chọn tỷ lệ 3% trên giá trị của khoản mục cần lưu ý. Mức trọng yếu đối với khoản mục này được xác định là: 3% x giá trị khoản mục thuế và các khoản nộp NSNN = 3% x 1.000 triệu đồng = 30 triệu đồng (chi tiết xem Bảng 4).

Bảng 4. Xác định mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN, mức trọng yếu thực hiện và ngưỡng sai sót không đáng kể của khoản mục cần lưu ý

Các khoản mục cần lưu ý

Giá trị khoản mục

Xác định mức trọng yếu khoản mục lưu ý Xác định mức trọng yếu thực hiện của khoản mục lưu ý Xác định ngưỡng sai sót không đáng kể Mô tả cách xác định
Tỷ lệ % Mức trọng yếu Tỷ lệ  % Mức trọng yếu Tỷ lệ  % Ngưỡng sai sót không đáng kể
1 2 3 4=3x2 5 6=5x4 7 8=7x4 9
1. Thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước

1.000

trđ

0,3%

30

trđ

50%

15

trđ

1%

0,3

Trđ

Do là chỉ tiêu rất quan trọng
....                

3. Xác định các khoản mục trọng yếu

Trên cơ sở mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN và mức trọng yếu đối với khoản mục cần lưu ý, KTVNN xác định các khoản mục trọng yếu (Theo Phụ lục 05/HD-RRTY-DN):

a) Khi lập kế hoạch kiểm toán, KTVNN cần xác định các khoản mục trọng yếu trên BCTCDN làm cơ sở để đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ cơ sở dẫn liệu, thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm toán tiếp theo trong quá trình thực hiện kiểm toán.

b) Việc xác định các khoản mục có là trọng yếu hay không cần xem xét cả về định lượng và định tính trong hoàn cảnh cụ thể: 

- Xét về mặt định lượng: Các khoản mục trên BCTCDN có giá trị lớn mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN có thể xác định là trọng yếu nếu đánh giá có thể chứa đựng rủi ro sai sót trọng yếu lớn hơn mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN.

Ví dụ (tiếp theo ví dụ trên): các chỉ tiêu trên BCTCDN năm xx của Công ty A có giá trị lớn hơn mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN (>1.650 trđ) được xác định là khoản mục trọng yếu nếu đánh giá có thể chứa đựng rủi ro sai sót lớn hơn mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN.

- Xét về mặt định tính: Việc xác định các khoản mục trọng yếu không chỉ đơn thuần là việc xem xét về giá trị của các khoản mục trên BCTCDN mà cần phải sử dụng xét đoán chuyên môn khi xem xét các yếu tố định tính trong hoàn cảnh cụ thể. Một khoản mục có giá trị nhỏ hơn mức trọng yếu có thể là trọng yếu khi xem xét các yếu tố định tính nếu khoản mục là quan trọng và có khả năng chứa đựng sai sót, gian lận. Ngược lại, một khoản mục có giá trị lớn hơn mức trọng yếu có thể không xác định là trọng yếu nếu KTVNN có đủ cơ sở, bằng chứng xác định khoản mục không chứa đựng sai sót trọng yếu (Chi tiết xem ví dụ Bảng 5).

Bảng 5. Ví dụ xác định các khoản mục trọng yếu về định tính

Chỉ tiêu MS Giá trị (trđ)

Khoản mục trọng yếu (Có/

Không)

Lý do
Tài sản cố đinh hữu hình   3.000.000 Không Quy mô lớn hơn mức trọng yếu, nhưng có bằng chứng chắc chắn: không có biến động, hệ thống kiểm soát hiệu quả, qua thử nghiệm.
Tài sản cố định vô hình   2.000 Không
Thuế và các khoản phải nộp nhà nước   1.000 Có Quy mô nhỏ hơn mức trọng yếu;  nhưng là chỉ tiêu quan trọng, chính sách thay đổi nên hay có sai sót.
....        

c) Khi xác định các khoản mục trọng yếu, KTVNN thường xem xét các chỉ tiêu trên BCTCDN. Tuy nhiên, các thành phần chi tiết của chỉ tiêu trên BCTCDN cũng có thể được xem xét để xác định liệu những thành phần chi tiết đó có phải là trọng yếu hay không.

d) Khi đánh giá tính trọng yếu của các khoản mục, KTVNN cần xem xét cả quy mô, bản chất cũng như nội dung của từng khoản mục trong hoàn cảnh cụ thể. Các yếu tố định lượng và định tính liên quan đến việc xác định các khoản mục trọng yếu có thể bao gồm các yếu tố sau:

- Độ lớn và thành phần chi tiết của các khoản mục, số lượng của các giao dịch, mức độ phức tạp và tính đồng nhất của các giao dịch liên quan đến khoản mục (ví dụ: Các khoản mục số dư lớn, phức tạp có thể chứa đựng sai sót trọng yếu).

 - Khả năng có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn của khoản mục (ví dụ: Các nghiệp vụ mua bán, thanh toán giữa doanh nghiệp, khách hàng và nhà cung cấp; phân chia quyền lợi giữa các bên;...).

 - Bản chất của các khoản mục (các khoản mục dễ bị tác động để làm thay đổi doanh thu, chi phí, phân bổ, trích trước... ).

 - Sự phức tạp trong hạch toán kế toán và lập báo cáo các khoản mục (ví dụ: Các nghiệp vụ xảy ra ở cuối kỳ kế toán hoặc thuộc nghiệp vụ mới phát sinh; các hoạt động đặc thù...).

 - Sự tồn tại của giao dịch với các bên liên quan trong các khoản mục (ví dụ: Các nghiệp vụ bù trừ, quyết toán các hợp đồng khoán với các bộ phận,..).

 - Các khoản mục có sự biến động lớn, bất thường (các giao dịch mới, tăng đột biến hoặc mang tính chủ quan,...).

- Nhu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin tài chính, kỳ vọng và mối quan tâm của các nhà quản lý và công chúng về một vấn đề nhất định (ví dụ: Những vấn đề nổi cộm được Quốc hội và các cơ quan quản lý nhà nước quan tâm).

- Yêu cầu giám sát theo quy định của pháp luật trong một lĩnh vực cụ thể.

- Yêu cầu về việc công khai và minh bạch (ví dụ: Yêu cầu công khai cụ thể về gian lận hoặc các thiệt hại khác).

đ) Sau khi xác định ban đầu các khoản mục trọng yếu, KTVNN cần xem xét liệu các khoản mục không được xác định là trọng yếu, nếu xét tổng hợp có thể trở thành trọng yếu hay không.

Ví dụ (tiếp theo ví dụ trên): Việc xác định các khoản mục trọng yếu trên BCTCDN của Công ty A, với mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN là 1.650 trđ và mức trọng yếu đối với khoản mục “Thuế và các khoản phải nộp NSNN” là 30 trđ (xem chi tiết Bảng 6).

Bảng 6. Xác định các khoản mục trọng yếu

Chỉ tiêu MS Giá trị (trđ)

Khoản mục trọng yếu (Có/

Không)

Lý do
I. CHỈ TIÊU KQKD        
1. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 01 3.052.000 Có Quy mô lớn hơn mức trọng yếu; và khoản mục hay có sai sót do tính phức tạp; chưa có bằng chứng xác định khoản mục không có sai sót.
2. Giá vốn hàng bán 11 2.300.000 Có
3. Doanh thu hoạt động tài chính 21 2.000 Có
4. Chi phí quản lý doanh nghiệp 24 722.000 Có
5. Lợi nhuận kế toán trước thuế 50 32.000 Có
II. CHỈ TIÊU BẢNG CÂN ĐỐI        
1. Tiền 111 172.000 Có Quy mô lớn hơn mức trọng yếu; và hay có sai sót do tính phức tạp; chưa có bằng chứng chứng minh không có sai sót trọng yếu
2. Phải thu khách hàng 131 280.000 Có
3. Trả trước cho người bán 132 24.000 Có
4. Các khoản phải thu khác 136 6.000 Có
5. Hàng tồn kho 141 400.000 Có
6. Tài sản cố đinh hữu hình 220 3.000.000 Không Quy mô lớn hơn mức trọng yếu; nhưng khôn có biến động; đã thử nghiệm đánh giá HTKSNB hữu hiệu 
7. Tài sản cố định vô hình 227 2.000 Không
8. Chi phí xây dựng dở dang 242 64.000 Không
9. Tài sản khác 260 1.000 Không Quy mô nhỏ hơn mức trọng yếu
10. Chi phí trả trước dài hạn 261 342.000 Có Quy mô lớn hơn mức trọng yếu; và chưa có bằng chứng chứng minh không có sai sót trọng yếu
1. Nợ ngắn hạn 310 500.000 Có
2. Phải trả người bán ngắn hạn 311 400.000 Có
3. Người mua trả trước ngắn hạn 312 8.000 Có
4. Thuế và các khoản phải nộp NSNN 313 1.000 Có Quy mô nhỏ hơn mức trọng yếu; nhưng là khoản mục đặc biệt quan trọng.
....        

4. Xác định mức trọng yếu thực hiện

a) Xác định mức trọng yếu thực hiện dựa trên mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN và tỷ lệ % tương ứng trong chính sách xác định trọng yếu kiểm toán của KTNN theo quy định tại Khoản 3 Điều 6 của hướng dẫn này (khoảng từ 50-75% so với mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN).

b) Việc xác định mức trọng yếu thực hiện không chỉ đơn thuần là một phép tính cơ học mà yêu cầu phải có những xét đoán chuyên môn. Việc xét đoán này phụ thuộc vào hiểu biết của KTVNN về đơn vị được kiểm toán, kết quả đánh giá rủi ro, qui mô, bản chất của các sai sót đã phát hiện trong các cuộc kiểm toán, kiểm tra, thanh tra trước và khả năng lặp lại sai sót đó trong kỳ kiểm toán, mức độ sai sót dự kiến trong kỳ kiểm toán.

c) Việc chọn tỷ lệ áp dụng cho từng cuộc kiểm toán cụ thể tùy thuộc vào xét đoán chuyên môn của KTVNN và phải được giải thích lý do trong kế hoạch kiểm toán. Thông qua quá trình tìm hiểu thông tin về đơn vị được kiểm toán và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu, nếu KTVNN xác định rủi ro có sai sót trọng yếu của BCTCDN càng cao thì mức trọng yếu thực hiện càng nhỏ (tương ứng tỷ lệ xác định mức trọng yếu thực hiện trên mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN càng nhỏ) để phần chênh lệch giữa mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN và mức trọng yếu thực hiện có thể bao quát được các sai sót không phát hiện được và các sai sót không điều chỉnh.

d) Mức trọng yếu thực hiện sẽ quyết định nội dung, phạm vi kiểm toán cần phải thực hiện như: phải kiểm tra phần tử nào; số lượng mẫu chọn để kiểm toán... (theo lý thuyết chọn mẫu: Khoảng cách mẫu = Mức trọng yếu thực hiện/R và số phần từ chọn mẫu kiểm toán trong từng khoảng mục = Giá trị của khoản mục phải chọn mẫu/ Khoảng cách mẫu - Chi tiết tại Điểm c Khoản 2 Điều 12).

đ) Đối với các khoản mục cần lưu ý: Mức trọng yếu thực hiện cũng cần được xác định tương ứng nhằm giảm thiểu khả năng sai sót không được điều chỉnh hoặc không được phát hiện trong khoản mục đó tới mức thấp có thể xác định được. Mức trọng yếu thực hiện đối với khoản mục cần lưu ý thường được xác định ở mức thấp trong khung tỷ lệ xác định mức trọng yếu thực hiện tại Chính sách xác định trọng yếu kiểm toán của KTNN (Theo Phụ lục 04/HD-RRTY-DN).

Ví dụ (tiếp theo ví dụ trên): Giả thiết qua khảo sát đối với Công ty A đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu là cao nên tỷ lệ xác định mức trọng yếu thực hiện được xác định là mức thấp nhất trong khung tỷ lệ 50% - 75%, giả sử KTVNN chọn tỷ lệ xác định mức trọng yếu thực hiện là 50% mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN. Như vậy, mức trọng yếu thực hiện = 50% x 1.650 triệu đồng = 825 triệu đồng; đối với các khoản mục cần lưu ý “thực hiện nghĩa vụ với NSNN” = 50% x 30 triệu đồng = 15 triệu đồng (Chi tiết xem Bảng 3 và Bảng 4).

5. Xác định ngưỡng sai sót không đáng kể

a) Xác định ngưỡng sai sót không đáng kể dựa trên mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN và tỷ lệ % tương ứng trong Chính sách xác định trọng yếu kiểm toán của KTNN theo quy định tại Khoản 4 Điều 6 của Hướng dẫn này (Không quá 3% so với mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN).

Ngưỡng sai sót không đáng kể = Tỷ lệ phần trăm (%) xác định ngưỡng sai sót không đáng kể X Mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN

Ví dụ (tiếp theo ví dụ trên): Giả sử theo xét đoán chuyên môn, KTVNN xác định ngưỡng sai sót không đáng kể khi kiểm toán tại Công ty A là 1%, với mức trọng yếu đối với tổng thể BCTCDN đã xác định là 1.650 triệu đồng. Như vậy, ngưỡng sai sót không đáng kể được xác định bằng = 1% x 1.650 triệu đồng = 16,5 triệu đồng.

b) Đối với những khoản mục cần lưu ý, ngưỡng sai sót không đáng kể cũng dựa trên mức trọng yếu đã được xác định đối với khoản mục cần lưu ý nói trên.

Ví dụ (tiếp theo ví dụ trên): Đối với các khoản mục cần lưu ý “Thuế và các khoản nộp NSNN” được xác định bằng = 1% x 30 triệu đồng = 0,3 triệu đồng (Chi tiết xem Bảng 3 và Bảng 4).