vanban.org

Điều 24. Xử lý các trường hợp đặc biệt phát sinh trong quá trình tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất — Quyết định 01 /2017/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 07/03/2019 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 10/03/2019
Phú Thọ Ban hành 13/01/2017 Hiệu lực 23/01/2017 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 9 năm
Quyết định số 01 /2017/QĐ-UBND Ban hành Quy chế đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn tỉnh Phú Thọ · 01 /2017/QĐ-UBND
10/03/201902/2019/QĐ-UBNDSửa đổi Đang xem 23/01/2017Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 01 /2017/QĐ-UBND › Chương II › Mục 2 › Điều 24
Đọc toàn văn

Điều 24. Xử lý các trường hợp đặc biệt phát sinh trong quá trình tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất

1. Khi hết thời hạn thông báo, niêm yết công khai việc đấu giá theo quy định mà không có người đăng ký hoặc chỉ có một người đủ điều kiện đăng ký tham gia đấu giá hoặc có nhiều người đủ điều kiện đăng ký tham gia đấu giá nhưng chỉ có một người tham gia cuộc đấu giá thì đơn vị thực hiện cuộc đấu giá quyền sử dụng đất (hoặc cơ quan được ủy quyền của Hội đồng đấu giá) thông báo cho người đã đăng ký về việc không tổ chức cuộc đấu giá và tiếp tục thông báo, niêm yết công khai việc đấu giá lần hai theo quy định. Trường hợp đã thông báo, niêm yết đấu giá lần hai mà vẫn trong tình trạng như trên thì đơn vị thực hiện cuộc đấu giá thông báo bằng văn bản cho người đã đăng ký và đơn vị tổ chức thực hiện việc đấu giá về lý do không tổ chức cuộc bán đấu giá.

Đối với các trường hợp này và trường hợp đấu giá ít nhất 02 lần nhưng không thành, cơ quan Tài nguyên và Môi trường báo cáo Ủy ban nhân dân cùng cấp xem xét giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 118 Luật Đất đai.

2. Trường hợp có từ 02 người trở lên cùng trả một giá cao nhất nhưng đều không có yêu cầu trả giá tiếp thì người điều hành cuộc đấu giá tổ chức bốc thăm cho những người đó để xác định người trúng đấu giá quyền sử dụng đất.

3. Trường hợp người tham gia đấu giá ghi số tiền bằng chữ và bằng số không khớp nhau, thì sử dụng số tiền ghi bằng chữ làm căn cứ để xác định giá đã trả.

4. Trường hợp người trả giá cao nhất được công bố thấp hơn so với giá khởi điểm thì cuộc đấu giá quyền sử dụng đất coi như không thành. Người trả giá thấp hơn so với giá khởi điểm không được trả lại tiền đặt trước.

5. Tại cuộc đấu giá, người đã trả giá cao nhất mà rút lại giá đã trả trước khi công bố người trúng đấu giá thì cuộc đấu giá vẫn tiếp tục và bắt đầu từ giá của người trả giá thấp hơn liền kề. Trong trường hợp không có người trả giá tiếp thì cuộc đấu giá coi như không thành. Người rút lại giá đã trả bị truất quyền tham gia trả giá tiếp và không được hoàn trả khoản tiền đặt trước.

6. Khi đã công bố người trúng đấu giá mà người này từ chối nhận quyền sử dụng đất, thì quyền trúng đấu giá được chuyển cho người trả giá liền kề nếu giá đó cộng với khoản tiền đã đặt trước của người này ít nhất bằng giá đã trả của người từ chối nhận quyền sử dụng đất. Trường hợp giá liền kề cộng với khoản tiền đặt trước nhỏ hơn giá đã trả của người từ chối nhận quyền sử dụng đất hoặc người trả giá liền kề không đồng ý mua thì cuộc đấu giá ô, thửa, lô đất đó coi như không thành.

7. Trường hợp đấu giá không thành mà nguyên nhân là do giá khởi điểm cao thì đơn vị tổ chức thực hiện việc đấu giá có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền xác định lại giá khởi điểm. Nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự xác định lại giá khởi điểm thực hiện như quy định đối với việc xác định giá khởi điểm lần đầu.

8. Việc xử lý khoản tiền đặt trước trong trường hợp người tham gia đấu giá không được hoàn trả thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu giá.