vanban.org

Điều 6. Quản lý, sử dụng kinh phí trích thưởng — Quyết định Số: 01/2015/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/04/2022 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/04/2022 Thay thế: 06/2022/QĐ-UBND · 17/03/2022
Bình Định Ban hành 14/01/2015 Hiệu lực 23/01/2015 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 11 năm
Quyết định số 06/2022/QĐ-UBND Ban hành Quy định về nguyên tắc thành lập, quản lý, điều hành và sử dụng Quỹ phòng, chống tội phạm tỉnh Bình Định · 06/2022/QĐ-UBND
Quyết định số Số: 01/2015/QĐ-UBND Về việc thành lập, quản lý và sử dụng Quỹ Phòng, chống tội phạm tỉnh Bình Định · Số: 01/2015/QĐ-UBND
01/04/202206/2022/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 23/01/2015Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định Số: 01/2015/QĐ-UBND › Điều 6
Đọc toàn văn

Điều 6. Quản lý, sử dụng kinh phí trích thưởng

1. Đối tượng được khen thưởng

a. Các cá nhân, tập thể trực tiếp phát hiện, bắt giữ được đối tượng truy nã, đối tượng phạm tội về hình sự, ma túy.

b. Cá nhân có công trực tiếp phát giác, tố giác đối tượng phạm tội về hình sự, ma túy, cung cấp thông tin giúp cơ quan Công an điều tra, làm rõ vụ án nghiêm trọng, phức tạp, gây dư luận xấu trong nhân dân.

c. Các tập thể trực tiếp phát hiện, điều tra làm rõ các vụ án hình sự, ma túy nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.

2. Mức thưởng

a. Thưởng đối với các tập thể trực tiếp thụ lý, điều tra, khám phá các vụ án hình sự, kinh tế..., thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng nhưng gây ra hậu quả nghiêm trọng, được dư luận xã hội chú ý: Mức thưởng tùy từng trường hợp, do Công an tỉnh đề nghị trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định, nhưng tối đa không quá 2.000.000 đồng/cá nhân và 5.000.000 đồng/tập thể; tổng số tiền thưởng không quá 10.000.000 đồng/vụ.

b. Thưởng đối với tập thể, cá nhân phát hiện, truy bắt được đối tượng truy nã nguy hiểm và đặc biệt nguy hiểm; bắt được đối tượng phạm tội quả tang về tội hình sự nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng: Mức thưởng tùy từng trường hợp, do Công an tỉnh đề nghị trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định, nhưng tối đa không quá 3.000.000 đồng/cá nhân và 5.000.000 đồng/tập thể; tổng số tiền thưởng không quá 15.000.000 đồng/vụ.

c. Thưởng đối với các tập thể trực tiếp thụ lý, điều tra, khám phá, truy tố, xét xử các vụ án hình sự về tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng: Mức thưởng tùy từng trường hợp, do Công an tỉnh đề nghị trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định, nhưng tối đa không quá 5.000.000 đồng/cá nhân và 10.000.000 đồng/tập thể; tổng số tiền thưởng không quá 30.000.000 đồng/vụ.

d. Thưởng đối với các tập thể trực tiếp phát hiện, bắt giữ được đối tượng phạm tội về ma túy: Mức thưởng căn cứ theo trọng lượng ma túy thu được đối với từng vụ, cụ thể như sau:

- Từ 100 gram đến dưới 300 gram hêrôin thưởng 1.000.000 đồng.

- Từ 300 gram đến dưới 400 gram hêrôin thưởng 2.000.000 đồng.

- Từ 400 gram đến dưới 500 gram hêrôin thưởng 3.000.000 đồng.

- Từ 500 gram đến dưới 600 gram hêrôin thưởng 4.000.000 đồng.

- Từ 600 gram đến dưới 1.000 gram hêrôin thưởng 5.000.000 đồng.

- Từ 1.000 gram đến dưới 20.000 gram hêrôin, đối với 1.000 gram ban đầu, thưởng 6.000.000 đồng, cứ mỗi 1.000 gram tăng thêm, được thưởng thêm 1.000.000 đồng.

- Từ 20.000 gram hêrôin trở lên, thưởng 30.000.000 đồng.

Nếu một vụ thu được nhiều loại ma túy thì cộng tổng trọng lượng quy đổi của các loại ma túy thu được để xét thưởng;  tỷ lệ quy đổi như sau:

- 01 gram hêrôin = 01 gram côcain;

- 01 gram hêrôin = 01 gram ma túy tổng hợp ở thể rắn;

- 01 gram hêrôin = 10 gram nhựa thuốc phiện;

- 01 gram hêrôin = 05 mililit ma túy dạng dung dịch.

3. Trình tự, thủ tục thưởng

a. Đơn vị có cá nhân, tập thể có thành tích trong đấu tranh chống tội phạm, truy bắt đối tượng truy nã, triệt xóa cây thuốc phiện..., lập báo cáo đề nghị khen thưởng, kèm theo hồ sơ (Quyết định khen, biên bản cân tịnh, niêm phong tang vật; biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, quyết định khởi tố vụ án...), gửi về Công an tỉnh để tổng hợp, đề xuất.

b. Công an tỉnh tổng hợp hồ sơ, căn cứ thành tích cụ thể của tập thể, cá nhân và quy định của tỉnh về mức khen thưởng để đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định thưởng.

c. Căn cứ Quyết định thưởng của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh; Sở Tài chính chuyển tiền từ Quỹ phòng, chống tội phạm tỉnh cho Công an tỉnh; Công an tỉnh chịu trách nhiệm chi tiền thưởng cho đơn vị lập hồ sơ đề nghị thưởng.

4. Trường hợp nguồn kinh phí trích thưởng 30% không đủ để thực hiện việc thưởng đối với các vụ án thì việc mức trích thưởng được giảm tương ứng trong phạm vi mức trích thưởng tối đa 30%. Trường hợp nguồn được trích thưởng 30% sau khi thực hiện thưởng cho cá nhân và tập thể theo quy định tại Khoản 3, Điều 6 này mà còn thừa kinh phí thì Giám đốc Sở Tài chính trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh để thực hiện trích, chuyển vào Quỹ phòng, chống tội phạm Trung ương và chuyển vào Quỹ phòng, chống tội phạm tỉnh theo quy định tại Khoản 3, Điều 4 Quyết định này.

5. Kế toán, quyết toán nguồn trích khen thưởng

a. Việc chi thưởng phải đảm bảo đúng nguyên tắc về quản lý tài chính kế toán. Công an tỉnh quản lý kinh phí trích thưởng, thực hiện công tác kế toán đối với khoản kinh phí này theo chế độ kế toán hiện hành và được theo dõi chi tiết riêng.

b. Định kỳ 6 tháng, hàng năm, Công an tỉnh báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đồng gửi Sở Tài chính việc thu, chi nguồn kinh phí trích khen thưởng và tình hình sử dụng kinh phí trích khen thưởng.