Điều 32. Khởi kiện vụ án
1- Người khởi kiện phải làm đơn yêu cầu Toà án cấp có thẩm quyền giải quyết trong các thời hạn sau đây:
a) Một năm kể từ ngày phát sinh tranh chấp hoặc sáu tháng kể từ ngày Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên của cơ quan lao động cấp huyện hoà giải không thành đối với các tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc về bồi thường thiệt hại cho người sử dụng lao động; b) Sáu tháng kể từ ngày Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên của cơ quan lao động cấp huyện hoà giải không thành đối với các tranh chấp lao động cá nhân khác;
c) Ba tháng kể từ ngày có quyết định về tranh chấp lao động tập thể của Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh mà tập thể lao động, người sử dụng lao động không đồng ý với quyết định đó.
2- Đơn kiện phải ghi rõ:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn;
b) Toà án được yêu cầu giải quyết vụ án;
c) Họ, tên của nguyên đơn, bị đơn;
d) Địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn; nếu không rõ địa chỉ của bị đơn thì ghi địa chỉ nơi làm việc hoặc nơi cư trú cuối cùng hoặc nơi có trụ sở của bị đơn;
đ) Nội dung tranh chấp, giá trị tranh chấp nếu có;
e) Quá trình thương lượng, hoà giải, quyết định của Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh (nếu có);
g) Các yêu cầu đề nghị Toà án giải quyết.
3- Đơn kiện phải do nguyên đơn hoặc người đại diện của nguyên đơn ký. Kèm theo đơn kiện phải có các tài liệu chứng minh yêu cầu của nguyên đơn.
4- Hội đồng hoà giải lao động cơ sở, hoà giải viên của cơ quan lao động cấp huyện, Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh có trách nhiệm gửi cho Toà án hồ sơ kèm theo biên ban hoà giải không thành hoặc quyết định về việc giải quyết tranh chấp lao động.