vanban.org

Điều 23. Nghĩa vụ của Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh — Pháp lệnh số 37/2001/PL-UBTVQH10 Luật sư

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/01/2007 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/01/2007
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Ban hành 25/07/2001 Hiệu lực 01/10/2001 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời pháp lệnh · 3 phiên bản · 38 năm
Pháp lệnh số 37/2001/PL-UBTVQH10 Luật sư · 37/2001/PL-UBTVQH10
01/01/200765/2006/QH11Sửa đổi Đang xem 01/10/2001Bản gốcThay thế
Pháp lệnh số 2A-LCT/HĐNN8 Tổ chức luật sư 1987 · 2A-LCT/HĐNN8
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Pháp lệnh 37/2001/PL-UBTVQH10 › Chương III › Điều 23
Đọc toàn văn

Điều 23. Nghĩa vụ của Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh

1. Công ty luật hợp danh có các nghĩa vụ sau đây:

a) Hoạt động theo đúng lĩnh vực hành nghề ghi trong Giấy đăng ký hoạt động;

b) Thực hiện đúng những nội dung đã giao kết với khách hàng;

c) Bồi thường thiệt hại do lỗi mà luật sư của mình gây ra cho khách hàng trong khi thực hiện tư vấn pháp luật, các dịch vụ pháp lý khác;

d) Mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư của mình;

đ) Niêm yết mức thù lao tại trụ sở của mình;

e) Chấp hành quy định của pháp luật về lao động, thuế, kế toán, thống kê;

g) Nhận luật sư tập sự và cử luật sư hướng dẫn luật sư tập sự theo sự giới thiệu của Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư;

h) Chấp hành các yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc báo cáo, kiểm tra, thanh tra;

i) Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

2. Văn phòng luật sư có các nghĩa vụ sau đây:

a) Các nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Cử luật sư tham gia tố tụng trong các vụ án do cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu, theo sự phân công của Đoàn luật sư.