Điều 5. Hợp tác quốc tế về công nghiệp quốc phòng
1. Nguyên tắc hợp tác quốc tế về công nghiệp quốc phòng bao gồm:
a) Nhà nước tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia hoạt động công nghiệp quốc phòng theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi, phù hợp với pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
b) Bảo đảm bí mật nhà nước về quốc phòng, an ninh;
c) Ưu tiên lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ lưỡng dụng;
d) Tuân thủ các quy định của pháp luật về tổ chức, quản lý các hoạt động đối ngoại quân sự; quy chế xuất nhập khẩu, mua sắm hàng quốc phòng và các quy định khác liên quan đến công nghiệp quốc phòng.
2. Nội dung hợp tác quốc tế về công nghiệp quốc phòng bao gồm:
a) Thiết lập, củng cố và phát triển mối quan hệ hợp tác với các nước;
b) Trao đổi thông tin, tài liệu kỹ thuật và chuyển giao công nghệ phục vụ xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng;
c) Các hoạt động liên doanh, liên kết sản xuất, sửa chữa lớn; hợp tác nghiên cứu ứng dụng, triển khai sản xuất phục vụ công nghiệp quốc phòng;
d) Đào tạo nguồn nhân lực cho công nghiệp quốc phòng.