Điều 7. Thẩm quyền quyết định điều chuyển tài sản công
1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định điều chuyển tài sản công đối với các loại tài sản sau:
a) Trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, tài sản khác gắn liền với đất, xe ô tô và phương tiện vận tải khác giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị trên địa bàn tỉnh.
b) Tài sản có nguyên giá theo sổ sách kế toán từ 500 triệu đồng trở lên/1 đơn vị tài sản giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc dự toán ngân sách cấp tỉnh, giữa cấp tỉnh và cấp huyện, cấp xã trên địa bàn tỉnh.
2. Giám đốc Sở Tài chính quyết định điều chuyển tài sản (trừ trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, ô tô) có nguyên giá theo sổ sách kế toán dưới 500 triệu đồng/01 đơn vị tài sản giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc dự toán ngân sách cấp tỉnh, giữa cấp tỉnh và cấp huyện, cấp xã trên địa bàn tỉnh.
3. Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh và tương đương quyết định điều chuyển tài sản (trừ trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, ô tô) có nguyên giá theo sổ sách kế toán dưới 500 triệu đồng/01 đơn vị tài sản giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý.
4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định điều chuyển tài sản (trừ trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, ô tô) có nguyên giá dưới 500 triệu đồng/01 đơn vị tài sản giữa các xã, thị trấn; giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc dự toán ngân sách cấp huyện.
5. Riêng đối với đơn vị sự nghiệp công lập, không thực hiện điều chuyển đối với tài sản công đang trong thời hạn thực hiện cho thuê, liên doanh, liên kết đúng quy định của pháp luật.
Việc thực hiện điều chuyển tài sản giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị phải đảm bảo nguyên tắc: tài sản được điều chuyển từ nơi thừa sang nơi thiếu, theo tiêu chuẩn định mức và nâng cao hiệu quả sử dụng của tài sản.