Điều 6. Nguồn vốn hỗ trợ lãi suất, quản lý, cấp phát khoản hỗ trợ lãi suất cho các dự án
1. Tổng kinh phí ngân sách hỗ trợ lãi suất theo Nghị quyết này tối đa không quá 300 tỷ đồng. Trường hợp dự kiến tổng kinh phí thực hiện chính sách vượt quá 300 tỷ đồng nhưng chưa hết thời gian tiếp nhận hồ sơ theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 5 của Nghị quyết này thì dừng tiếp nhận hồ sơ đề nghị hỗ trợ. Sở Tài chính có văn bản thông báo về việc dừng tiếp nhận hồ sơ để chủ đầu tư được biết.
2. Căn cứ các Quyết định phê duyệt hỗ trợ lãi suất của các dự án và tình hình thực tế thực hiện chính sách, Ủy ban nhân dân thành phố trình hội đồng nhân dân thành phố bố trí kinh phí hỗ trợ lãi suất trong dự toán hằng năm (tối đa 100 tỷ đồng/năm). Trong năm, nếu kinh phí hỗ trợ lãi suất các chủ đầu tư đề nghị vượt quá dự toán được giao, Ủy ban nhân dân thành phố báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân thành phố xem xét, quyết định bổ sung dự toán năm đó để thực hiện nhưng không vượt quá tổng kinh phí hỗ trợ lãi suất theo quy định của khoản 1 Điều này.
3. Căn cứ Quyết định phê duyệt của Ủy ban nhân dân thành phố về việc hỗ trợ lãi suất cho các dự án và hồ sơ về khoản tín dụng của dự án do chủ đầu tư cung cấp theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết này, trước ngày 31 tháng 3 hàng năm, Sở Tài chính chủ trì, phối hợp Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh thành phố Đà Nẵng và các cơ quan, đơn vị liên quan thẩm tra, báo cáo đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt cấp kinh phí hỗ trợ lãi suất hàng năm cho các dự án cụ thể.
4. Căn cứ Quyết định phê duyệt cấp kinh phí của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố về khoản hỗ trợ lãi suất hàng năm cho từng dự án và dự toán đã được bố trí trong dự toán, Sở Tài chính thực hiện cấp phát kinh phí hỗ trợ để Kho bạc Nhà nước Đà Nẵng chuyển cho chủ đầu tư theo quy định.