Điều 2. Nguyên tắc hỗ trợ lãi suất
1. Hỗ trợ lãi suất vay vốn đầu tư dự án mới; dự án mở rộng, nâng cấp.
2. Các dự án đã sử dụng vốn tín dụng ưu đãi, bảo lãnh tín dụng nhà nước hoặc đã được hưởng các ưu đãi về lãi vay khác theo quy định của nhà nước không thuộc đối tượng được hỗ trợ lãi suất theo quy định tại Nghị quyết này.
3. Ngân sách không thực hiện hỗ trợ lãi suất đối với các dự án vay vốn trả một lần khi đến hạn.
4. Khoản vay không được tiếp tục hỗ trợ lãi suất trong trường hợp sau:
a) Ngân sách thành phố không hỗ trợ đối với phần lãi phát sinh do chủ đầu tư không hoàn trả lại vốn gốc đúng thời hạn của hợp đồng tín dụng đã nộp cho Sở Tài chính tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị hỗ trợ lãi suất.
b) Khoản vay được gia hạn nợ không được hỗ trợ lãi suất đối với thời gian được gia hạn nợ.
c) Dự án thay đổi chủ đầu tư. Chủ đầu tư đã nhận tiền hỗ trợ lãi suất nhưng sau đó chuyển nhượng dự án cho chủ đầu tư khác thì thành phố dừng hỗ trợ lãi suất tính từ thời điểm dự án hoàn tất thủ tục chuyển nhượng theo quy định tại Điều 46 của Luật Đầu tư.
d) Tại thời hạn nộp chứng từ trả lãi để xem xét cấp kinh phí hỗ trợ hằng năm theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết này, trường hợp chủ đầu tư chưa hoàn thành các nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi của khoản vay phát sinh theo hợp đồng tín dụng và thông báo của tổ chức cho vay tính đến hết ngày 31 tháng 12 của năm liền trước thì không được cấp kinh phí hỗ trợ lãi suất đối với những năm chưa hoàn thành nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi đó.
5. Khi dự án của chủ đầu tư được hưởng nhiều chính sách hỗ trợ về lãi suất của thành phố đang còn hiệu lực, thì chỉ được lựa chọn để hưởng một chính sách hỗ trợ.
6. Khi chủ đầu tư có nhiều dự án đảm bảo điều kiện được hỗ trợ theo quy định của Nghị quyết này thì chỉ được lựa chọn một dự án để hưởng chính sách hỗ trợ.