Điều 3. Mức trợ giúp xã hội
1. Đối với đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị quyết này
a) Mức trợ cấp hàng tháng bằng mức chuẩn trợ giúp xã hội do Chính phủ quy định nhân với hệ số tương ứng theo các nhóm đối tượng (chi tiết tại Phụ lục II đính kèm).
b) Mức hỗ trợ mai táng phí bằng 20 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội do Chính phủ quy định.
c) Cấp thẻ bảo hiểm y tế theo quy định pháp luật về bảo hiểm y tế.
Riêng đối tượng có tên bệnh, mã bệnh trong danh mục bệnh hiểm nghèo theo quy định của cấp có thẩm quyền (tại Phụ lục I đính kèm) không có tiền lương, lương hưu hàng tháng, trợ cấp bảo hiểm hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng, trợ cấp hưu trí xã hội hàng tháng chưa được quy định tại Nghị định số 20/2021/NĐ-CP và không thuộc đối tượng quy định tại điểm m khoản 1 Điều 2 Nghị quyết này thì chỉ được cấp thể bảo hiểm y tế.
d) Trường hợp đối tượng thuộc diện hưởng các mức trợ cấp xã hội hàng tháng theo các hệ số khác nhau, được hỗ trợ mai táng phí tại các văn bản khác nhau thì chỉ được hưởng một mức cao nhất; được quy định cấp thẻ bảo hiểm y tế tại các văn bản khác nhau thì được cấp theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế.
2. Đối với đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết này
a) Trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng cho mỗi đối tượng bằng mức chuẩn trợ giúp xã hội do Chính phủ quy định nhân với hệ số tương ứng:
Hệ số 5,0 đối với trẻ em dưới 04 tuổi.
Hệ số 4,0 đối với các đối tượng từ đủ 04 tuổi trở lên.
b) Cấp thẻ bảo hiểm y tế theo quy định pháp luật về bảo hiểm y tế.
c) Hỗ trợ mai táng phí bằng 50 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội do Chính phủ quy định.
d) Ngoài chế độ trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng, trẻ em dưới 04 tuổi, người khuyết tật đặc biệt nặng không có khả năng tự phục vụ, nằm một chỗ được hỗ trợ thêm 300.000 đồng/đối tượng/tháng để bổ sung dinh dưỡng.
đ) Hỗ trợ thêm tiền ăn, bổ sung thêm dinh dưỡng cho đối tượng trong thời gian điều trị tại bệnh viện: 60.000 đồng/đối tượng/ngày ngoài chế độ ăn hàng ngày theo quy định.
e) Hỗ trợ vật dụng và các nội dung khác phục vụ cho sinh hoạt của đối tượng theo quy định tại khoản 4 Điều 25 Nghị định số 20/2021/NĐ-CP của Chính phủ (Mức chi tiết tại Phụ lục III đính kèm).
g) Hỗ trợ tiền ăn thêm trong các ngày lễ, tết trong năm cho các đối tượng bảo trợ xã hội nuôi dưỡng, chăm sóc tại các cơ sở trợ giúp xã hội theo quy định của pháp luật lao động (11 ngày; riêng trẻ em dưới 16 tuổi là 13 ngày: thêm các ngày Quốc tế thiếu nhi và tết Trung thu): 150.000 đồng/đối tượng/ngày.
h) Hỗ trợ 100% chi phí điều trị tại cơ sở y tế theo quy định hiện hành về giá dịch vụ khám chữa bệnh đối với đối tượng không được cấp bảo hiểm y tế vì chưa được cấp mã định danh, căn cước công dân do chưa xác định được hoặc không có đầy đủ thông tin cá nhân; hỗ trợ phần chi phí còn lại sau khi trừ chi phí đồng chi trả của bảo hiểm y tế theo quy định hiện hành về giá dịch vụ khám chữa bệnh.
i) Hỗ trợ tiền ăn cho đối tượng hồi gia trở về nơi cư trú: 70.000 đồng/người/ngày; nhưng không quá 02 ngày.
k) Hỗ trợ tiền mua vé tàu, xe công cộng cho đối tượng hồi gia trở về nơi cư trú theo giá thực tế.
l) Hỗ trợ 03 tháng tiền ăn, mỗi tháng bằng 04 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội do Chính phủ quy định cho các đối tượng là trẻ em quy định tại điểm e, g, h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết này khi đủ 16 tuổi được hồi gia, hòa nhập cộng đồng theo quy định và trường hợp đủ 16 tuổi nhưng đang học văn hoá, học nghề, học trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất được tiếp tục hưởng chính sách trợ giúp chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội cho đến khi kết thúc khóa học, nhưng tối đa không quá 22 tuổi được hồi gia, hòa nhập cộng đồng. Thời gian hỗ trợ từ tháng người đứng đầu cơ sở trợ giúp xã hội ký quyết định dừng trợ giúp xã hội đối với đối tượng.
m) Số lượng đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết này được tiếp nhận vào chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội công lập trực thuộc Sở Y tế không quá 350 đối tượng.
3. Đối với đối tượng quy định tại khoản 3 Điều 2 Nghị quyết này
a) Trong thời gian điều trị tại Bệnh viện Tâm thần trực thuộc Sở Y tế được hỗ trợ các chế độ quy định tại điểm a, b khoản 4 Điều 3 Nghị quyết này.
b) Trong thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội công lập trực thuộc Sở Y tế được hỗ trợ các chế độ quy định tại điểm a, b, c, d, đ, e, g, h, i, k khoản 2 Điều này; hỗ trợ một lần chi phí mua sắm tư trang, vật dụng thiết yếu ban đầu (giày, dép, quần áo, xà bông, kem, bót đánh răng, khăn,…) với mức 700.000 đồng/người thay cho mức quy định tại điểm 2.1 mục 2 Phụ lục III. Thời gian không quá 03 tháng mà không đưa đối tượng trở về lại được với gia đình, cộng đồng, người đứng đầu cơ sở trợ giúp xã hội công lập trực thuộc Sở Y tế có văn bản đề nghị Sở Y tế xem xét, quyết định giải pháp phù hợp.
c) Hỗ trợ trong việc xử lý các đối tượng quy định tại khoản 3 Điều 2 Nghị quyết này
Hỗ trợ lực lượng phối hợp đưa đối tượng vào cơ sở y tế công lập có chức năng điều trị bệnh tâm thần, cơ sở trợ giúp xã hội công lập trực thuộc Sở Y tế: 100.000 đồng/người/01 đối tượng nhưng không quá 02 người/01 đối tượng;
Thưởng cho tập thể, cá nhân phát hiện, theo dõi và thông báo cho lực lượng chức năng xử lý về các trường hợp liên quan đến đối tượng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 2 Nghị quyết này: 300.000 đồng/01 trường hợp.
4. Đối với đối tượng quy định tại khoản 4 Điều 2 Nghị quyết này
a) Hỗ trợ chi phí điều trị
Đối tượng không tham gia bảo hiểm y tế được hỗ trợ 100% chi phí điều trị theo quy định hiện hành về giá dịch vụ khám chữa bệnh;
Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế được hỗ trợ phần chi phí còn lại sau khi trừ chi phí đồng chi trả của bảo hiểm y tế theo quy định hiện hành về giá dịch vụ khám chữa bệnh.
b) Hỗ trợ tiền ăn theo mức quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 3.
5. Đối tượng quy định tại khoản 1, 2 Điều 24 Nghị định số 20/2021/NĐ-CP đang được chăm sóc, nuôi dưỡng trong các cơ sở trợ giúp xã hội công lập trực thuộc Sở Y tế
a) Hỗ trợ các chế độ quy định tại điểm d, đ, e, g, h, i, k khoản 2 Điều này.
b) Đối tượng trẻ em được trợ giúp chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 24 Nghị định số 20/2021/NĐ-CP khi đủ 16 tuổi được hồi gia, hòa nhập cộng đồng theo quy định và trường hợp khi đủ 16 tuổi nhưng đang học văn hoá, học nghề, học trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất được tiếp tục hưởng chính sách trợ giúp chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội cho đến khi kết thúc khóa học, nhưng tối đa không quá 22 tuổi được hồi gia, hòa nhập cộng đồng, được hỗ trợ chế độ quy định tại điểm l khoản 2 Điều này.