vanban.org

Điều 2. Đối tượng áp dụng — Nghị quyết 41/2025/NQ-HĐND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 01/01/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Đà Nẵng Ban hành 11/12/2025 Hiệu lực 01/01/2026 Còn hiệu lực
Dòng đời phiên bản 2 đời nghị quyết · 3 phiên bản · 2 năm
Nghị quyết số 41/2025/NQ-HĐND Quy định một số chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng · 41/2025/NQ-HĐND
01/01/2026Bản gốcThay thế Hiện hành
Nghị quyết số 101/2023/NQ-HĐND Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 34/2021/NQ-HĐND ngày 12/8/2021 của Hội đồng nhân dân thành phố về việc thông qua mức chuẩn trợ giúp xã hội, mức trợ giúp xã hội và mở rộng đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng · 101/2023/NQ-HĐND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị quyết 41/2025/NQ-HĐND › Điều 2
Đọc toàn văn

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Đối tượng bảo trợ xã hội thường trú trên địa bàn thành phố được trợ cấp hàng tháng ở cộng đồng

a) Trẻ em dưới 03 tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn của Chính phủ quy định chưa hưởng trợ cấp xã hội theo quy định tại Nghị định số 20/2021/NĐ-CP.

b) Trẻ em dưới 16 tuổi mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại biệt tích từ một năm (12 tháng) trở lên hoặc đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng hoặc trợ cấp hưu trí xã hội ở cộng đồng chưa được quy định tại Nghị định số 20/2021/NĐ-CP.

c) Trẻ em dưới 16 tuổi có cha hoặc mẹ bị khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn của Chính phủ quy định đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng hoặc đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội, nhà xã hội chưa được quy định tại Nghị định số 20/2021/NĐ-CP.

d) Trẻ em nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ cận nghèo theo chuẩn của Chính phủ quy định chưa được quy định tại Nghị định số 20/2021/NĐ-CP.

đ) Người từ đủ 16 đến 22 tuổi mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại biệt tích từ một năm (12 tháng) trở lên, đang học văn hóa, học nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học văn bằng thứ nhất chưa được quy định tại Nghị định số 20/2021/NĐ-CP.

e) Người cao tuổi thuộc hộ cận nghèo theo chuẩn của Chính phủ quy định không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng, đủ điều kiện tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội, nhà xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng chưa được quy định tại Nghị định số 20/2021/NĐ-CP.

g) Người cao tuổi thuộc hộ cận nghèo theo chuẩn của Chính phủ quy định không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng hoặc có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng nhưng người này đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hàng tháng hoặc trợ cấp hưu trí xã hội hàng tháng chưa được quy định tại Nghị định số 20/2021/NĐ-CP.

h) Người cao tuổi từ đủ 75 tuổi đến dưới 100 tuổi thuộc diện hộ nghèo theo chuẩn của Chính phủ quy định chưa được quy định tại Nghị định số 20/2021/NĐ-CP và Nghị định số 176/2025/NĐ-CP.

j) Người cao tuổi từ đủ 100 tuổi trở lên.

k) Người khuyết tật là thế hệ thứ ba của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học chưa được quy định tại Nghị định số 20/2021/NĐ-CP.

l) Bộ đội phục viên, xuất ngũ bị bệnh tâm thần có thời gian tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, phía Bắc hoặc làm nghĩa vụ Quốc tế tại nước bạn Lào, Campuchia hoặc hoạt động ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật chưa được hưởng các chính sách trợ cấp hàng tháng theo Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng, trợ cấp đối với quân nhân ở các chiến trường K,C, lương hưu hàng tháng, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng, trợ cấp hưu trí xã hội hàng tháng chưa được quy định tại Nghị định số 20/2021/NĐ-CP.

m) Người bị mắc bệnh hiểm nghèo trong danh mục bệnh hiểm nghèo theo quy định của cấp có thẩm quyền (tại Phụ lục I đính kèm) không có tiền lương, lương hưu hàng tháng, trợ cấp bảo hiểm hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng, trợ cấp hưu trí xã hội hàng tháng chưa được quy định tại Nghị định số 20/2021/NĐ-CP.

n) Người nhiễm HIV/AIDS thuộc hộ cận nghèo theo chuẩn của Chính phủ quy định không có tiền lương, lương hưu hàng tháng, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng, trợ cấp xã hội hàng tháng, trợ cấp hưu trí xã hội hàng tháng chưa được quy định tại Nghị định số 20/2021/NĐ-CP.

o) Người ngừng hưởng trợ cấp mất sức lao động có thời gian công tác thực tế dưới 15 năm và thời gian công tác quy đổi từ đủ 15 năm trở lên, nay đã hết tuổi lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn của Chính phủ quy định chưa được quy định tại Nghị định số 20/2021/NĐ-CP.

2. Đối tượng bảo trợ xã hội thường trú trên địa bàn thành phố có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được tiếp nhận vào chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội công lập trực thuộc Sở Y tế chưa được quy định tại Nghị định số 20/2021/NĐ-CP.

a) Người cao tuổi thuộc hộ nghèo theo chuẩn của Chính phủ quy định, không có vợ hoặc không có chồng và không có con; có vợ hoặc có chồng nhưng đã chết và không có con, không có điều kiện sống ở cộng đồng, có nguyện vọng được tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội.

b) Người cao tuổi thuộc hộ nghèo theo chuẩn của Chính phủ quy định, có vợ hoặc có chồng, có con nhưng những người này đã chết hoặc biệt tích từ một năm (12 tháng) trở lên hoặc đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng hoặc trợ cấp hưu trí xã hội hàng tháng hoặc đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội hoặc đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, không có điều kiện sống ở cộng đồng, có nguyện vọng được tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội.

c) Người khuyết tật đặc biệt nặng có cha và mẹ đều đã chết, không có vợ hoặc không có chồng và không có con, không có điều kiện sống ở cộng đồng, có nguyện vọng được tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội.

d) Người khuyết tật đặc biệt nặng có cha, mẹ, có vợ hoặc có chồng, có con nhưng những người này đã chết hoặc biệt tích từ một năm (12 tháng) trở lên hoặc đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng hoặc trợ cấp hưu trí xã hội hàng tháng hoặc đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội hoặc con dưới 16 tuổi hoặc đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc đang công tác phục vụ bảo vệ Tổ quốc tại các vùng biên giới hải đảo, không có điều kiện sống ở cộng đồng, có nguyện vọng được tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội.

đ) Người khuyết tật đặc biệt nặng dạng tật thần kinh, tâm thần không thuộc đối tượng quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều này, thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn của Chính phủ quy định đã qua điều trị nội trú từ 02 lần trở lên tại cơ sở y tế công lập có chức năng điều trị bệnh tâm thần trong 02 năm (24 tháng) trở lại và có hành vi nguy hiểm cho gia đình, cộng đồng và xã hội.

e) Trẻ em dưới 16 tuổi mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại khuyết tật đặc biệt nặng đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng hoặc trợ cấp hưu trí xã hội hàng tháng hoặc đang bị tạm giữ, tạm giam không tự lo được cuộc sống và không có người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng.

g) Trẻ em dưới 16 tuổi có cả cha và mẹ biệt tích từ một năm (12 tháng) trở lên; mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại biệt tích từ một năm (12 tháng) trở lên; có cha hoặc mẹ biệt tích từ một năm (12 tháng) trở lên và người còn lại đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng hoặc đang hưởng trợ cấp hưu trí xã hội hàng tháng hoặc đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội hoặc đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, không tự lo được cuộc sống và không có người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng.

h) Trẻ em dưới 16 tuổi có cả cha và mẹ đang bị tạm giữ, tạm giam; có cha hoặc mẹ đang bị tạm giữ, tạm giam và người còn lại đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng hoặc hưởng trợ cấp hưu trí xã hội hàng tháng hoặc đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội hoặc đang chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, không tự lo được cuộc sống và không có người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc tại cộng đồng.

3. Đối tượng cần bảo vệ khẩn cấp được tiếp nhận vào chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội công lập trực thuộc Sở Y tế chưa được quy định tại Nghị định số 20/2021/NĐ-CP

a) Người già yếu, trẻ em, người khuyết tật, người ốm yếu không còn khả năng lao động sống lang thang, không xác định được nơi cư trú, tối ngủ ở những nơi công cộng (vỉa hè, chợ, bến xe, nhà ga, gầm cầu, công viên,...).

b) Người trực tiếp xin ăn, người vừa làm một công việc khác kết hợp với việc xin ăn (bán hàng rong, bán sách báo, bán vé số dạo,...); người mang theo trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật để xin ăn, bán hàng rong.

c) Người có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần lang thang trên địa bàn thành phố và có hành vi gây nguy hiểm cho bản thân và người khác, gây mất trật tự xã hội, có hành vi thiếu văn minh gây ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị.

4. Đối tượng có dấu hiệu bị loạn thần có hành vi nguy hiểm cho bản thân, gia đình và xã hội thường trú trên địa bàn thành phố tự nguyện điều trị tại Bệnh viện Tâm thần trực thuộc Sở Y tế

a) Đối tượng có biểu hiện rối loạn tâm thần lên cơn kích động.

b) Đối tượng có dấu hiệu bị loạn thần nghiện ma túy.

c) Đối tượng có dấu hiệu bị loạn thần nghiện ma túy và nhiễm HIV/AIDS.