Điều 7. Soạn thảo văn bản thi hành Luật Phát triển đô thị
1. Căn cứ Danh mục văn bản quy định chi tiết Luật Phát triển đô thị do cơ quan có thẩm quyền ban hành theo quy định của pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức việc soạn thảo theo quy định của pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật và Nghị quyết này.
2. Cơ quan chủ trì soạn thảo lập hồ sơ dự thảo, gồm:
a) Tờ trình theo quy định tại khoản 3 Điều này;
b) Dự thảo văn bản;
c) Bản so sánh, thuyết minh nội dung dự thảo văn bản;
d) Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến dự thảo văn bản, kèm phụ lục rà soát các chủ trương, đường lối của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật có liên quan;
đ) Báo cáo đánh giá tác động của chính sách; trong đó, đánh giá, so sánh giữa phương án áp dụng quy định hiện hành và phương án ban hành quy định khác hoặc chưa có với quy định hiện hành;
e) Bản đánh giá thủ tục hành chính, việc phân cấp, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp, việc ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (nếu có);
g) Tài liệu khác có liên quan (nếu có).
3. Tờ trình dự thảo văn bản thi hành Luật Phát triển đô thị thực hiện theo mẫu tại Phụ lục ban hành kèm Nghị quyết này, gồm các nội dung theo quy định của pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật và đánh giá thêm các nội dung sau:
a) Sự cần thiết, tính cân đối, hợp lý của việc cần phải ban hành văn bản để quy định khác với văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương hoặc chưa có quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ.
b) Sự phù hợp của dự thảo văn bản với nguyên tắc quy định tại Điều 3 của Luật Phát triển đô thị.
c) Cơ chế kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình.
d) Mục tiêu và dự kiến kết quả cần đạt được khi ban hành văn bản.