Điều 16. Thẩm định, thẩm tra, thông qua dự thảo nghị quyết thí điểm
1. Việc thẩm định, thẩm tra nghị quyết thí điểm được thực hiện theo quy định của pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật và các nội dung sau:
a) Việc thẩm định nghị quyết thí điểm được thực hiện theo hình thức thành lập hội đồng thẩm định. Cơ quan chủ trì thẩm định tổ chức thẩm định theo hình thức họp hội đồng thẩm định hoặc lấy ý kiến thành viên hội đồng thẩm định bằng văn bản;
Thành viên hội đồng thẩm định bao gồm đại diện Sở Tư pháp, Sở Tài chính, Sở Nội vụ, Sở Khoa học và Công nghệ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh; trường hợp cần thiết, hội đồng thẩm định mời cơ quan, tổ chức có liên quan, chuyên gia, nhà khoa học (nếu có) tham gia cuộc họp hội đồng thẩm định;
Trường hợp không thể tham gia cuộc họp hội đồng thẩm định, thành viên hội đồng thẩm định có trách nhiệm gửi ý kiến thẩm định bằng văn bản đến cơ quan chủ trì thẩm định trong thời hạn chậm nhất là 03 ngày làm việc kể từ ngày tổ chức cuộc họp hội đồng thẩm định;
Trường hợp lấy ý kiến thành viên hội đồng thẩm định bằng văn bản, trong thời hạn không quá 07 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị thẩm định, thành viên hội đồng thẩm định gửi ý kiến thẩm định đến cơ quan chủ trì thẩm định;
b) Hồ sơ gửi thẩm định, thẩm tra gồm các tài liệu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 9 của Nghị quyết này;
c) Nội dung thẩm định, thẩm tra nghị quyết thí điểm được thực hiện theo quy định của pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật, điểm b khoản 1 Điều 9 của Nghị quyết này và đánh giá thêm các nội dung sau:
Sự cần thiết phải thí điểm; việc bảo đảm nguyên tắc theo quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật Phát triển đô thị;
Tính khả thi, biện pháp quản trị rủi ro và khả năng kiểm soát trong phạm vi thực hiện thí điểm;
Điều kiện bảo đảm thực hiện thí điểm;
Cơ chế giám sát, đánh giá việc thực hiện thí điểm.
2. Việc thông qua dự thảo nghị quyết thí điểm được thực hiện theo quy định của pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật.