Điều 23. Xử lý vi phạm
1. Doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân nhận hỗ trợ bị xem xét xử lý trách nhiệm theo quy định của pháp luật và xử lý vi phạm theo quy định tại khoản 2 Điều này khi có một hoặc một số hành vi vi phạm sau đây:
a) Giả mạo hồ sơ năng lực, tài chính, công nghệ để đề nghị nhận hỗ trợ;
b) Sử dụng kinh phí sai nội dung hợp đồng hỗ trợ;
c) Lập khống chứng từ, hóa đơn để hợp thức hóa chi phí;
d) Triển khai chậm tiến độ quy định tại hợp đồng;
đ) Không thực hiện đầy đủ các hạng mục, nội dung công việc theo hợp đồng;
e) Không đạt kết quả đầu ra như quy định tại hợp đồng;
g) Không thực hiện chế độ báo cáo theo quy định hoặc báo cáo không trung thực về tiến độ, kết quả thực hiện, tình trạng sử dụng kinh phí.
2. Căn cứ hành vi quy định tại khoản 1 Điều này, tính chất, hậu quả của vi phạm, việc xử lý vi phạm bao gồm những hình thức sau:
a) Tạm đình chỉ hỗ trợ và yêu cầu khắc phục vi phạm;
b) Thu hồi một phần kinh phí hoặc toàn bộ kinh phí đã hỗ trợ;
c) Chấm dứt hỗ trợ, hủy kết quả hỗ trợ đã phê duyệt, yêu cầu hoàn trả kinh phí đã hỗ trợ;
d) Không được tiếp tục tham gia các chương trình, chính sách hỗ trợ của Thành phố trong thời gian 05 năm kể từ thời điểm phát hiện vi phạm.
3. Các tổ chức trung gian hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo nếu vi phạm trong tổ chức, giám sát, cấp phát, thanh quyết toán kinh phí hỗ trợ; chậm trễ thực hiện hợp đồng; không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm kiểm tra, giám sát; bao che cho sai phạm của tổ chức, cá nhân liên quan thì tùy mức độ sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật và Nghị quyết này.