vanban.org

Điều 10. Thu hồi kinh phí hỗ trợ — Nghị quyết 21/2026/NQ-HĐND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 16/07/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
HĐND Tỉnh Bắc Ninh Ban hành 16/07/2026 Hiệu lực 16/07/2026 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị quyết 21/2026/NQ-HĐND › Điều 10
Đọc toàn văn

Điều 10. Thu hồi kinh phí hỗ trợ

1. Thu hồi toàn bộ kinh phí hỗ trợ đã chi trả đối với các trường hợp sau:

a) Hộ gia đình tự ý tháo dỡ toàn bộ hoặc một phần hệ thống điện mặt trời hộ gia đình đã được hỗ trợ trước thời hạn cam kết 03 năm kể từ ngày nhận kinh phí hỗ trợ, trừ trường hợp bất khả kháng hoặc trường hợp được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận theo quy định;

b) Cung cấp thông tin, hồ sơ giả mạo, sai sự thật để trục lợi từ chính sách hỗ trợ của Nhà nước;

c) Sử dụng hệ thống điện mặt trời hộ gia đình sai mục đích, vi phạm tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về an toàn phòng cháy, chữa cháy, an toàn điện hoặc quy định về bảo vệ môi trường đến mức phải thu hồi kinh phí hỗ trợ theo kết luận, quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

2. Khi phát hiện trường hợp thuộc diện thu hồi kinh phí hỗ trợ, Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện kiểm tra, lập biên bản hoặc căn cứ tài liệu xác định vi phạm; thông báo để Chủ hộ giải trình trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo. Trên cơ sở kết quả kiểm tra, tài liệu xác minh và ý kiến giải trình của Chủ hộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành quyết định thu hồi kinh phí hỗ trợ, trong đó nêu rõ lý do thu hồi, số tiền thu hồi, thời hạn nộp lại và trách nhiệm tổ chức thực hiện.

3. Số tiền thu hồi được nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và pháp luật có liên quan. Việc thu hồi kinh phí hỗ trợ quy định tại Điều này không làm phát sinh thủ tục hành chính mới đối với Chủ hộ.