vanban.org

Điều 3. Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu đẩy mạnh phát triển du lịch giai đoạn 2006 - 2010, định hướng đến năm 2020 — Nghị quyết 20/2006/NQ-HĐND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hải Phòng Ban hành 19/12/2006 Hiệu lực 25/12/2006 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị quyết 20/2006/NQ-HĐND › Điều 3
Đọc toàn văn

Điều 3. Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu đẩy mạnh phát triển du lịch giai đoạn 2006 - 2010, định hướng đến năm 2020

1. Nhiệm vụ:

1.1. Tập trung chỉ đạo hoàn thành rà soát, điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch thành phố, phù hợp với Quy hoạch tổng thể quốc gia về du lịch. Năm 2007 - 2008, hoàn thành Quy hoạch chi tiết phát triển du lịch Cát Bà, Đồ Sơn - lưu vực sông Đa Độ, công viên rừng Thiên Văn - Núi Voi, hồ Sông Giá, di tích Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Dương kinh nhà Mạc, tháp Tường Long, triển khai quy hoạch phát triển du lịch nội thành. Quy hoạch chi tiết các khu, điểm dịch vụ, hệ thống cửa hàng mua sắm, phục vụ du khách; mời các tổ chức tư vấn trong, ngoài nước có năng lực xây dựng quy hoạch, thiết kế các khu du lịch.

1.2. Chuẩn bị tốt các dự án, đề xuất với Trung ương đầu tư một số cơ sở hạ tầng du lịch quy mô lớn; bố trí vốn hỗ trợ đầu tư hạ tầng có mục tiêu của Trung ương theo đúng quy hoạch của ngành Du lịch đã phê duyệt; đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, khai thác có hiệu quả nguồn vốn đầu tư; hàng năm thành phố ưu tiên bố trí vốn ngân sách để lập quy hoạch chi tiết và chuẩn bị đầu tư cho các dự án du lịch, kết hợp đầu tư, tôn tạo phục dựng các di tích lịch sử, công trình văn hóa, đầu tư đồng bộ về đường, điện, cấp thoát nước, thoát và xử lý nước thải trong các khu du lịch; dành quỹ đất hợp lý cho khuôn viên cây xanh, đường nội bộ, bãi đỗ xe, vệ sinh công cộng ở các trọng điểm du lịch. Đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa để tăng nguồn lực đầu tư cho phát triển du lịch.

Triển khai đề án xây dựng cảng du lịch nội địa và quốc tế; xây dựng cầu cảng du lịch tại đảo Dáu; phối hợp tốt với các Bộ, ngành Trung ương đẩy nhanh tiến độ đầu tư nâng cấp sân bay Cát Bi theo tiêu chuẩn quốc tế; đưa vào sử dụng dự án Trường Trung học nghiệp vụ du lịch Hải Phòng và Trung tâm Hỗ trợ giới thiệu sản phẩm làng nghề - quảng bá và xúc tiến du lịch.

1.3. Phát triển thị trường khách du lịch trong nước và quốc tế, nhất là Trung Quốc, các nước Đông Nam Á, mở rộng thị trường du lịch Đông Á - Thái Bình Dương, Tây Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và phấn đấu vươn tới thị trường Nga, Đông Âu, Bắc Âu, Úc, Niu-di-lân...

1.4. Lựa chọn loại hình du lịch chủ yếu nhằm phát huy có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn và những lợi thế của thành phố như:

- Du lịch sinh thái biển kết hợp nghỉ dưỡng, thể thao, hội thảo - hội nghị - hội chợ và du lịch mạo hiểm.

- Du lịch lễ hội, thăm các di tích lịch sử, văn hóa, khảo cứu văn hóa truyền thống, đặc thù địa phương.

- Du lịch điền dã, khảo cứu văn hóa làng xã, thưởng ngoạn miệt vườn ven sông.

- Du lịch văn hóa ẩm thực, mua sắm.

- Du lịch tâm linh.

Hình thành tua, tuyến du lịch phù hợp, hấp dẫn, chất lượng cao; các điểm vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng, thể thao; các loại hình dịch vụ đặc sắc tại các trọng điểm du lịch; nghiên cứu, sản xuất hàng lưu niệm đặc trưng của Hải Phòng; tổ chức tốt việc giới thiệu, dịch vụ hàng lưu niệm cho khách. Phát huy và tổ chức tốt Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn trở thành loại hình dịch vụ du lịch đặc sắc.

1.5. Đào tạo, nâng cao chất lượng nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch, chú trọng lao động quản lý hoạt động kinh doanh. Phấn đấu đến năm 2010 số lượng lao động du lịch và dịch vụ du lịch đạt 32.000 người, trong đó 50% qua đào tạo.

1.6. Xây dựng thương hiệu du lịch Hải Phòng đủ sức cạnh tranh trong khu vực và quốc tế. Tăng cường quản lý, bảo tồn, quảng bá, phát huy Khu Dự trữ sinh quyển thế giới quần đảo Cát Bà; các khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, thể thao và khách sạn cao cấp đạt tiêu chuẩn quốc tế, có nhiều loại hình dịch vụ tiện lợi và hấp dẫn du khách. Hoàn thành Đề án thành lập các Khu du lịch quốc gia của thành phố trong năm 2007 - 2008. Phấn đấu mỗi ngành, địa phương đều có sản phẩm, dịch vụ du lịch chất lượng cao; chú trọng các sản phẩm du lịch đặc sắc của Hải Phòng.

2. Giải pháp chủ yếu:

2.1. Chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành và nhân dân về phát triển du lịch, về vị trí, vai trò của kinh tế du lịch trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.

2.2. Xây dựng cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đầu tư phát triển du lịch đồng bộ, toàn diện, phù hợp với chính sách và cam kết của Nhà nước về du lịch với Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), về đào tạo lại, đào tạo mới nhân lực du lịch, đầu tư hạ tầng. Có cơ chế ưu tiên đối với các dự án vui chơi giải trí, dự án có quy mô lớn, đầu tư phát triển phương tiện vận chuyển khách du lịch, đặc biệt là đội tàu du lịch ở Cát Bà; chế tác và sản xuất các sản phẩm, hàng lưu niệm mang đặc trưng Hải Phòng; cơ chế thu hút nhân tài phục vụ du lịch địa phương. Năm 2007, hoàn thành xây dựng tiêu chuẩn cơ sở dịch vụ du lịch và Quy chế thẩm định, công nhận cơ sở đủ tiêu chuẩn dịch vụ du lịch trên địa bàn thành phố; xây dựng quy chế đảm bảo an toàn cho du khách; nghiên cứu sớm có cảnh sát du lịch. Trước mắt, báo cáo Trung ương cho phép triển khai thực hiện thí điểm tại các trọng điểm du lịch: Cát Bà, Đồ Sơn và nội thành.

2.3. Tổ chức đào tạo nhân lực du lịch theo chuẩn quốc gia ở các hệ: Dạy nghề, trung cấp, tiến tới đào tạo cao đẳng, tương đương đại học và đại học. Tổ chức nghiên cứu khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng, áp dụng công nghệ tiên tiến trong đào tạo. Trước mắt tập trung đào tạo để có đủ hướng dẫn viên, thuyết minh viên thạo nghề, được trang bị kiến thức, hiểu biết toàn diện và có trình độ ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu phục vụ khách du lịch trong nước và quốc tế.

Thường xuyên mở lớp tập huấn về Luật Du lịch và các văn bản có liên quan, quán triệt các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước cho Giám đốc doanh nghiệp, người quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch.

2.4. Tổ chức xúc tiến - quảng bá du lịch: Nâng cao chất lượng các tuyến du lịch hiện có, mở thêm tuyến du lịch sinh thái biển Hải Phòng - Bạch Long Vỹ. Phối hợp với các tỉnh, thành phố trong và ngoài nước, thực hiện nối tuyến du lịch địa phương với tuyến du lịch quốc gia và quốc tế: Chú trọng tuyến đường bộ Hải Phòng - Côn Minh, Hải Phòng - Nam Ninh (Trung Quốc); Hải Phòng - Nghệ An - Lào - Thái Lan. Mở tuyến đường thủy Hải Phòng đi các cảng biển quốc tế trong khu vực.

Đầu tư kinh phí, xúc tiến mở các tuyến bay quốc tế mới từ Hải Phòng đến các sân bay quốc tế trong khu vực: Nam Ninh, Hải Nam (Trung Quốc); Băng Cốc, Pattaya (Thái Lan); Busan (Hàn Quốc); tăng cường xúc tiến thị trường khách trong nước tạo nguồn khách đối ứng, nâng cao hiệu quả tuyến bay Hồng Kông/Ma Cao - Hải Phòng. Lập Đề án hình thành chợ đêm tại khu vực ven hồ Cung Văn hóa thể thao thanh niên.

Thành phố tăng chi ngân sách cho quảng bá - xúc tiến du lịch, thành lập các trung tâm thông tin du lịch, thực hiện quảng bá với quy mô lớn, chất lượng cao, tổ chức lễ hội quảng bá hàng năm, lễ hội du lịch quốc gia, quốc tế giới thiệu hình ảnh Hải Phòng với du khách trong và ngoài nước. Gắn du lịch với văn hóa, tạo sức hấp dẫn của các điểm du lịch, tua, tuyến du lịch bằng các sản phẩm du lịch đặc sắc của Hải Phòng; xây dựng nếp sống văn minh, tạo phong cách, vẻ đẹp của người Hải Phòng và môi trường du lịch văn minh, hấp dẫn của thành phố. Kiên quyết xóa bỏ tình trạng chèo kéo khách, chạy theo khách bán hàng, xin ăn ở các trọng điểm du lịch.

2.5. Các ngành, các cấp có biện pháp hữu hiệu quản lý xây dựng và kinh doanh, bảo vệ tài nguyên môi trường du lịch, chú trọng xử lý nước thải và chất thải ở các điểm du lịch, khu du lịch. Đồng thời yêu cầu các doanh nghiệp thực hiện cam kết bảo vệ môi trường.

Tăng cường phối hợp giữa các ngành, các cấp, tuyên truyền giáo dục, khuyến khích cộng đồng dân cư và khách du lịch tham gia bảo vệ tài nguyên môi trường, từng bước đưa nội dung bảo vệ tài nguyên môi trường vào chương trình giáo dục trong các trường học góp phần giữ gìn thành phố ‘xanh, sạch, đẹp’.

Mở rộng quan hệ quốc tế về bảo vệ tài nguyên môi trường du lịch; thực hành nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, nhanh chóng nâng cao chất lượng môi trường du lịch.

2.6. Tăng cường quản lý nhà nước về du lịch:

Nâng cao chất lượng cán bộ, củng cố và kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch của thành phố, nhất là các địa phương trọng điểm du lịch, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát triển du lịch trong tình hình mới. Tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các vi phạm trong quá trình thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch, các hoạt động dịch vụ du lịch; gắn phát triển du lịch với đảm bảo quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội.

Phát huy vai trò của Hiệp hội Du lịch và các tổ chức xã hội góp phần đẩy mạnh hoạt động kinh doanh du lịch.