Điều 5. Xử lý vướng mắc đối với dự án BT chuyển tiếp có nội dung hợp đồng dự án chưa phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm ký kết
1. Đối với hợp đồng dự án quy định hình thức thanh toán bằng ngân sách nhà nước được xác định có nội dung chưa phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm ký kết mà nguyên nhân do lỗi của cơ quan nhà nước, cơ quan có thẩm quyền được xem xét, thỏa thuận với nhà đầu tư để sửa đổi, bổ sung hợp đồng và tiếp tục thực hiện thanh toán cho nhà đầu tư theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị quyết này khi đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 3 Điều này.
2. Đối với hợp đồng dự án quy định hình thức thanh toán bằng quỹ đất hoặc tài sản công được xác định có nội dung chưa phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm ký kết mà nguyên nhân do lỗi của cơ quan nhà nước, cơ quan có thẩm quyền thực hiện như sau:
a) Rà soát, thỏa thuận và thống nhất với nhà đầu tư để sửa đổi, bổ sung các nội dung chưa phù hợp trong hợp đồng dự án khi đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 3 Điều này;
b) Sau khi ký kết phụ lục sửa đổi hợp đồng dự án, nhà đầu tư tiếp tục tổ chức đầu tư xây dựng công trình BT (nếu chưa hoàn thành) hoặc thực hiện quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình (nếu đã hoàn thành);
c) Cơ quan có thẩm quyền thanh toán, quyết toán cho nhà đầu tư theo quy định tại hợp đồng dự án, phụ lục sửa đổi hợp đồng dự án đã ký kết theo quy định tại Điều 6 của Nghị quyết này;
d) Cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm đề nghị Kiểm toán nhà nước thực hiện việc kiểm toán dự án làm cơ sở tổ chức quyết toán giá trị dự án BT, thanh toán, giao đất cho nhà đầu tư, bảo đảm hài hòa lợi ích của nhà nước và nhà đầu tư, hiệu quả sử dụng vốn nhà nước, sớm đưa dự án vào vận hành, khai thác, không để lãng phí, thất thoát.
3. Điều kiện áp dụng khoản 1 và khoản 2 Điều này:
a) Dự án đang được triển khai có hiệu quả hoặc đã hoàn thành, đưa vào khai thác, sử dụng và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho Bộ và địa phương;
b) Hợp đồng có nội dung chưa phù hợp nhưng không dẫn đến thất thoát, lãng phí, thiệt hại cho nhà nước; quá trình thực hiện dự án không phát sinh tiêu cực, tham nhũng;
c) Có sự thống nhất giữa cơ quan có thẩm quyền và nhà đầu tư về việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng để tiếp tục thực hiện dự án.
4. Đối với dự án BT chuyển tiếp thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này nhưng các bên thỏa thuận không tiếp tục thực hiện hợp đồng thì cơ quan có thẩm quyền thực hiện như sau:
a) Đề nghị Kiểm toán nhà nước thực hiện việc kiểm toán giá trị công trình dự án BT hoàn thành và chi phí lãi vay phát sinh do chậm thanh toán (nếu có), làm cơ sở thực hiện quyết toán, thanh toán cho nhà đầu tư;
b) Chấm dứt hợp đồng trước thời hạn với nhà đầu tư;
c) Bố trí vốn ngân sách nhà nước để thanh toán cho nhà đầu tư chi phí đầu tư xây dựng theo giá trị quyết toán công trình BT hoàn thành và chi phí lãi vay phát sinh do chậm thanh toán (nếu có) được Kiểm toán nhà nước kiểm toán tại điểm a khoản này;
d) Xem xét, quyết định việc tiếp tục đầu tư xây dựng công trình BT theo quy định của pháp luật hiện hành.
5. Đối với dự án BT chuyển tiếp được xác định có nội dung hợp đồng dự án chưa phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm ký kết hợp đồng mà nguyên nhân do lỗi của nhà đầu tư thì cơ quan có thẩm quyền thực hiện theo quy định tại điểm b và d khoản 4 Điều này; không bố trí vốn ngân sách nhà nước để thanh toán chấm dứt hợp đồng trước thời hạn cho nhà đầu tư.