Điều 15. Trách nhiệm xem xét báo cáo của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân
1. Tại kỳ họp, Hội đồng nhân dân xem xét các báo cáo sau đây:
a) Báo cáo của Ủy ban nhân dân cùng cấp về kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước, quyết toán ngân sách nhà nước của địa phương;
b) Báo cáo công tác 06 tháng, hằng năm, báo cáo công tác nhiệm kỳ của Ủy ban nhân dân cùng cấp;
c) Báo cáo công tác 06 tháng, hằng năm, báo cáo công tác nhiệm kỳ của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân;
d) Báo cáo của Ủy ban nhân dân cùng cấp về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; tiết kiệm, chống lãng phí; công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
đ) Báo cáo khác theo quy định của pháp luật, nghị quyết của Hội đồng nhân dân hoặc đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân.
2. Ngoài các báo cáo quy định tại khoản 1 Điều này, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét các báo cáo sau đây:
a) Báo cáo của Ủy ban nhân dân đặc khu nơi không tổ chức cấp chính quyền địa phương về kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước, quyết toán ngân sách nhà nước;
b) Báo cáo công tác 06 tháng, hằng năm, báo cáo công tác nhiệm kỳ của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân đặc khu nơi không tổ chức cấp chính quyền địa phương.
3. Trong thời gian giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét báo cáo công tác của Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân đặc khu nơi không tổ chức cấp chính quyền địa phương và các báo cáo khác quy định tại các điểm a, b, d và đ khoản 1 và khoản 2 Điều này do Hội đồng nhân dân giao.
Trong thời gian giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân cấp xã, Thường trực Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét báo cáo công tác của Ủy ban nhân dân cấp xã và các báo cáo khác quy định tại các điểm a, b, d và đ khoản 1 Điều này do Hội đồng nhân dân giao.
4. Thời điểm xem xét các báo cáo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thực hiện theo quy định của pháp luật; trường hợp pháp luật không quy định rõ thời điểm xem xét thì thực hiện theo yêu cầu của Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp.